Truyền hình KHCN

Thông qua nghiên cứu quá trình đổi mới cơ chế quản lý khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo (KH, CN & ĐMST) của Việt Nam trong quá trình đổi mới kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế, đề tài: “Nghiên cứu chính sách khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo của Việt Nam và Cuba phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, trong bối cảnh quá trình nâng cấp mô hình kinh tế của Cuba và tiến trình đổi mới, hội nhập quốc tế của Việt Nam” do PGS. TS. Trần Ngọc Ca cùng các cộng sự tại Viện Chiến lược và Chính sách khoa học và công nghệ thực hiện từ năm 2018 đến năm 2020, sẽ cung cấp luận cứ mang tính gợi suy cho Cuba trong việc cập nhật mô hình kinh tế; đồng thời, nghiên cứu các chính sách mang lại thành công trong một số lĩnh vực KH&CN nhất định của Cuba để rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.

Nghien cuu ung dung2022

Hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia trong nhiều nghiên cứu được gọi chung và rộng hơn là hệ thống khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, giải quyết các vấn đề của xã hội và phát triển bền vững. Nhiệm vụ nghiên cứu này có mục đích chia sẻ kinh nghiệm giữa Việt Nam và Cuba về phát triển hệ thống KH, CN và ĐMST cũng như quá trình thay đổi chính sách phục vụ cho phát triển kinh tế-xã hội. Trong khuôn khổ nhiệm vụ này, chủ đề nghiên cứu được hiểu theo cách tiếp cận chung của hệ thống ĐMST quốc gia đang trưởng thành của các nước đang phát triển trong điều kiện chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường.

Kết quả nghiên cứu đã cho thấy hiện trạng của hệ thống KH, CN và ĐMST ở cả hai nước đã có những bước phát triển dần dần theo từng thời kỳ. Việc phân tích các thay đổi chính sách cũng cho thấy, tùy theo điều kiện phát triển các chính sách cũng được điều chỉnh và xây dựng mới cho phù hợp với điều kiện của giai đọan. Một số kinh nghiệm và bài học chính sách của cả hai nước đã được đúc rút và đề xuất như những bài học mà nước kia có thể cân nhắc học hỏi. Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, một số các kinh nghiệm về xây dựng chính sách đã được phía Cuba vận dụng ngay. Một số giải pháp chính sách khác có thể được hình thành trong khuôn khổ của những hoạt động hợp tác tiếp theo về xây dựng các chính sách và đào tạo cụ thể, nhất là trong lĩnh vực phát triển và đổi mới, chuyển giao công nghệ ở Cuba.

Có thể thấy, một số kinh nghiệm và bài học có thể học hỏi được ngay, nhưng cũng có những bài học còn tùy thuộc nhiều vào điều kiện kinh tế - xã hội và định hướng phát triển của từng nước. Mô hình phát triển của Việt Nam là kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, trong khi đó Cuba chưa tuyên bố phát triển kinh tế thị trường mà chỉ cập nhật mô hình kinh tế. Những mức độ và định hướng phát triển này sẽ có thể tạo ra những điều kiện khác nhau và không dễ dàng cho việc sử dụng các bài học kinh nghiệm. Do vậy, các bài học kinh nghiệm có lẽ sẽ có ý nghĩa thực tiễn hơn nếu nhìn vào đó như những gợi suy thay vì những giải pháp cụ thể. Những gợi ý chính sách này sẽ có thể giúp cho các nhà hoạch định chính sách đưa ra những giải pháp riêng phù hợp với điều kiện và thời điểm phát triển của mình thay vì bắt chước ngay những kinh nghiệm chính sách từ bên ngoài.

Việc chia sẻ kinh nghiệm và chấp nhận các bài học chính sách bản thân sẽ là một thử nghiệm chính sách trong giai đoạn này của hợp tác song phương Việt Nam và Cuba. Đây có thể sẽ là tiền đề cho những bước hợp tác tiếp sau trong những lĩnh vực khác nhau giữa hai nước.

Có thể tìm đọc báo cáo kết quả nghiên cứu (mã số 17947/2020) tại Cục Thông tin khoa học và công nghệ quốc gia.

Nguồn https://www.vista.gov.vn/news/ket-qua-nghien-cuu-trien-khai/nghien-cuu-chinh-sach-khoa-hoc-cong-nghe-va-doi-moi-sang-tao-cua-viet-nam-va-cuba-phuc-vu-phat-trien-kinh-te-xa-hoi-trong-boi-canh-qua-trinh-nang-cap-mo-hinh-kinh-te-cua-cuba-va-tien-trinh-doi-moi-hoi-nhap-quoc-te-cua-viet-nam-5976.html

Hiện nay, các tỉnh Tây Nguyên cũng đang đẩy nhanh tiến độ triển khai các chương trình chăn nuôi trọng điểm, tập trung chỉ đạo thực hiện chương trình cải tạo đàn bò, chủ yếu là thực hiện đại trà đàn bò lai, trồng cỏ chăn nuôi trâu, bò. Chăn nuôi bò sữa, bò thịt ở Tây Nguyên là thành phần không thể thiếu để phát triển kinh tế vùng. Áp dụng công nghệ thụ tinh nhân tạo, cấy chuyển phôi bò nói riêng và công nghệ sinh sản nói chung vào chăn nuôi, giúp nâng cao năng suất và chất lượng đàn bò, cũng là cách nâng cao mức thu nhập của người dân một cách bền vững. Một số địa phương cũng phát triển chăn nuôi heo rừng lai cho thu nhập khá cao. Heo rừng gốc Tây Nguyên là loại heo rừng có chất lượng thịt rất ngon và được ưa chuộng.

Bo Tya nguyen2022

Việc tiếp tục thực hiện các nghiên cứu để ổn định được giống; hoàn thiện quy trình thu nhận tinh, tạo phôi in vitro và lưu giữ nguồn tinh, phôi heo rừng có nguồn gốc Tây Nguyên; phát triển chăn nuôi heo rừng lai thương phẩm, tạo được một giống heo rừng lai có nguồn gốc từ heo rừng Tây Nguyên đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn sản xuất là rất cần thiết. Vì thế, nhóm nghiên cứu tại Viện sinh học Nhiệt đới thuộc Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam đã thực hiện đề tài: “Nghiên cứu hoàn thiện quy trình tuyển chọn, nhân nuôi; xây dựng mô hình chuyển giao công nghệ và thương mại hóa sản phẩm trong chăn nuôi heo rừng, bò sữa, bò thịt tại khu vực Tây Nguyên”. Đề tài do PGS. TS. Hoàng Nghĩa Sơn làm chủ nhiệm, được thực hiện từ năm 2016 đến năm 2020.

Mục tiêu của đề tài là tuyển chọn, ổn định được giống heo rừng thuần và phát triển công nghệ chăn nuôi heo rừng lai thương phẩm. Xây dựng trang trại chăn nuôi và thương hiệu thịt heo rừng có nguồn gốc Tây Nguyên. Bảo vệ nguồn gen heo rừng cấp độ phòng thí nghiệm và trong tự nhiên. Cải tạo và nâng cao chất lượng đàn bò thịt và sữa tại một số vùng thuộc biên giới của tỉnh Đắk Nông phục vụ phát triển kinh tế gắn liền với an ninh quốc phòng thông qua việc hoàn thiện công nghệ thụ tinh nhân tạo và công nghệ phôi bò.

Đề tài đã hoàn thành Quy trình tuyển chọn, ổn định giống heo rừng thuần; Quy trình chăn nuôi heo rừng lai thương phẩm; Quy trình thu nhận, lưu giữ nguồn tinh heo rừng; Quy trình tạo phôi heo rừng in vitro; và Quy trình sử dụng hóc môn sinh sản điều khiển động dục cho đàn bò sữa và bò lai hướng thịt để nâng cao năng suất sinh sản đàn bò. Bên cạnh đó, nhóm nghiên cứu đã xây dựng được Mô hình trang trại nuôi heo rừng thuần, nuôi heo rừng lai thương phẩm kiêm hệ thống nhà hàng tiêu thụ sản phẩm tại Đắk Nông với số lượng heo rừng thuần 30 con và trên 100 con heo lai. Ngoài ra, mô hình bảo tồn heo rừng Tây nguyên trong tự nhiên và 3 Mô hình nuôi bò sữa nông hộ tại Đức Trọng, Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng cũng đã hình thành. Đề tài đã xây dựng 10 Mô hình trang trại nuôi bò lai hướng thịt của các đồn biên phòng thuộc Bộ chỉ huy Bộ đội biên phòng và 3 mô hình nông hộ nuôi bò lai hướng thịt tại các huyện biên giới tỉnh Đắk Nông. Kết quả nghiên cứu đã chuyển giao 14 bò đực, 5 bò cái lai Brahman cho Bộ chỉ huy Bộ đội biên phòng tỉnh Đắk Nông và chuyển giao 6 con bò đực lai Brahman cho các hộ dân sát biên giới.

Có thể tìm đọc báo cáo kết quả nghiên cứu (mã số 17941/2020) tại Cục Thông tin khoa học và công nghệ quốc gia.

Nguồn https://www.vista.gov.vn/news/ket-qua-nghien-cuu-trien-khai/nghien-cuu-hoan-thien-quy-trinh-tuyen-chon-nhan-nuoi-xay-dung-mo-hinh-chuyen-giao-cong-nghe-va-thuong-mai-hoa-san-pham-trong-chan-nuoi-heo-rung-bo-sua-bo-thit-tai-khu-vuc-tay-nguyen-5969.html

 

Trong thời gian từ năm 2016 đến năm 2020, nhóm nghiên cứu của PGS. TS. Đỗ Hùng Mạnh tại Viện Khoa học Vật liệu thuộc Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam đã thực hiện đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của từ độ bão hòa và dị hướng từ tới công suất hấp thụ riêng của một số hệ hạt nano từ”.

Mot so he hat nano02022

Đề tài hướng đến thực hiện các mục tiêu sau: chế tạo thành công các hệ hạt nano AFe2O4 có cấu trúc spinel, trong đó A = Fe, Mn, Co, Zn có các thông số Ms và Keff khác nhau; đánh giá được mối liên quan của Ms và Keff và SAR của chất lỏng từ bằng lý thuyết và thực nghiệm; đánh giá sự đóng góp của các tổn hao hồi phục Neel và Brown cũng như độ nhớt của chất lỏng từ tới SAR; thúc đẩy lĩnh vực nghiên cứu cơ bản và ứng dụng trong ysinh của các hệ hạt nano từ tiệm cận với trình độ của khu vực và các nước tiên tiến; đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao, nâng cao vị thế khoa học của Viện và quốc gia về khoa học và công nghệ nano; và tăng cường, củng cố quan hệ hợp tác lâu dài, nhiều mặt như: đào tạo, nghiên cứu, v.v... với các cơ sở nghiên cứu và đào tạo trong nước và trên thế giới.

Sau bốn năm nghiên cứu, đề tài đã thu được các kết quả nổi bật dưới đây:

Về tính toán lý thuyết: Đã có thể khẳng định rằng do sự cạnh tranh của hai quá trình tổn hao hồi phục Neel và Brown, công suất tổn hao riêng (SLP) sẽ đạt cực đại tại một giá trị kích thước hạt tới hạn (Dc) trong đồ thị biểu diễn SLP phụ thuộc kích thước hạt D. Các thông số SLPmax và Dc sẽ phụ thuộc vào cả tính chất nội tại của hệ hạt và độ nhớt của chất lỏng từ. Ba đặc điểm chung đã được rút ra cho 6 hệ hạt nano tiêu biểu gồm FeCo, LSMO, MnFe2O4, Fe3O4, CoFe2O4 and FePt là:

(1) SLPmax tăng tuyến tính với từ độ bão hòa Ms của loại vật liệu.

(2) Dc là nhỏ hơn cho vật liệu có dị hướng từ K cao.

(3) Tồn tại kích thước hạt tới hạn, dưới kích thước này SLP bằng 0. Cho loại chất lỏng chứa hạt nano từ có K cao thì SLPmax and Dc giảm khi độ nhớt tăng. Ngược lại, hai thông số này hầu như không đổi cho các hệ hạt với K thấp (FeCo, LSMO, MnFe2O4 và Fe3O4).

Về thực nghiệm:

- Đã chế tạo thành công nhiều hệ hạt nano từ có độ từ hóa bão hào và dị hướng từ khác nhau: Fe3O4, Mn1-xZnxFe2O4, CoFe2O4 và các lỏng từ tương ứng.

- Khảo sát chi tiết các tham số cấu trúc, hình thái, kích thước hạt của các hệ mẫu được tổng hợp bằng các phương pháp và các điều kiện thực nghiệm khác nhau.

- Sự phụ thuộc nhiệt độ của lực kháng từ với hệ hạt ferit Mn pha tạp Zn có thể được giải thích thỏa đáng bằng mô hình lực kháng từ pha trộn. Tổn hao của chất lỏng từ phụ thuộc vào cả tính chất nội tại của hạt nano và độ nhớt của chất lỏng.

Các hạt nano với K cao (CFO): SLP giảm khi độ nhớt tăng, trong khi đó giá trị SLP hầu như không đổi cho hệ các hạt K thấp (MFO) phù hợp với tính toán lý thuyết. Các tính toán lý thuyết và thực nghiệm đã chỉ ra rằng các tổn hao riêng Neel và Brown phụ thuộc vào độ nhớt của chất lỏng từ và dị hướng từ của hệ hạt nano.

Có thể tìm đọc báo cáo kết quả nghiên cứu (mã số 17939/2020) tại Cục Thông tin khoa học và công nghệ quốc gia.

Nguồn https://www.vista.gov.vn/news/ket-qua-nghien-cuu-trien-khai/nghien-cuu-anh-huong-cua-tu-do-bao-hoa-va-di-huong-tu-toi-cong-suat-hap-thu-rieng-cua-mot-so-he-hat-nano-tu-5954.html

Trong những năm vừa qua, việc bảo tồn các giá trị đa dạng sinh học (ĐDSH) và Di sản văn hóa (DSVH) đô thị cổ Hội An ở Khu Dự trữ sinh quyển Cù Lao Chàm - Hội An đã và đang phải đối mặt với không ít khó khăn và thách thức: áp lực từ du khách tăng đột biến, công tác bảo tồn và phát triển KT-XH, lợi ích và sinh kế cộng đồng, cơ chế chính sách quản lý, nguồn gây ô nhiễm môi trường từ đất liền, thiên tai - thời tiết cực đoan do tác động của biến đổi khí hậu (BĐKH) và nước biển dâng. Theo đó môi trường sống của nhiều loài sinh vật quý hiếm, đặc hữu trong Khu Dự trữ sinh quyển Cù Lao Chàm - Hội An cũng sẽ có những thay đổi.

Cu lao cham nghe an2022

Trong bối cảnh đó, để đảm bảo hoạt động bảo tồn ĐDSH và DSVH ở Khu Dự trữ sinh quyển Cù Lao Chàm - Hội An đạt hiệu quả, đòi hỏi phải nghiên cứu xây dựng luận cứ khoa học tính khả thi để hài hòa mối quan hệ giữa bảo tồn ĐDSH với sinh kế bền vững (SKBV) và phát triển kinh tế - xã hội (KTXH) của địa phương, trên cơ sở đó thiết lập được các mô hình quản lý, sử dụng tài nguyên ĐDSH hiệu quả với sự tham gia tích cực của cộng đồng, các doanh nghiệp trong bối cảnh tác động của BĐKH và nước biển dâng. Đó là lý do nhóm nghiên cứu của PGS. TS. Uông Đình Khanh tại Viện Địa lý thuộc thuộc Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam đã thực hiện đề tài: “Luận cứ khoa học nhằm hài hòa mối quan hệ giữa bảo tồn đa dạng sinh học với sinh kế bền vững và phát triển kinh tế - xã hội ở Khu dự trữ sinh quyển Cù Lao Chàm - Hội An” trong thời gian từ năm 2016 đến năm 2020.

Đề tài hướng đến thực hiện những mục tiêu sau: có được luận cứ khoa học nhằm hài hòa mối quan hệ giữa bảo tồn ĐDSH với SKBV và phát triển KTXH ở Khu dự trữ sinh quyển Cù Lao Chàm - Hội An; có được mô hình quản lý, phục hồi và sinh kế sử dụng tài nguyên ĐDSH với sự tham gia của doanh nghiệp và cộng đồng ở Khu dự trữ sinh quyển Cù Lao Chàm - Hội An; và đề xuất được giải pháp bảo tồn và phát triển tài nguyên gắn với sinh kế cộng đồng và phát triển KTXH ở Khu dự trữ sinh quyển Cù Lao Chàm - Hội An.

Một số kết quả nổi bật của đề tài:

- Đã tiến hành điều tra, khảo sát, cập nhập đầy đủ cơ sở dữ liệu về ĐDSH, tài nguyên và môi trường ở Khu Dự trữ sinh quyển Cù Lao Chàm - Hội An. Về ĐDSH được đánh giá theo Hệ SINH THÁI, thành phần loài và mức độ đa dạng của chúng cũng như nguồn lợi tài nguyên thiên nhiên do các Hệ sinh thái mang lại

- Kết quả định giá kinh tế và đánh giá tiềm năng sinh kế thông qua lượng giá kinh tế dịch vụ các hệ sinh thái ở Khu dự trữ sinh quyển Cù Lao Chàm - Hội An lợi nhuận trung bình của một người dân trong một năm khai thác trên hệ sinh thái có thể ước tính được giá trị trung bình mà hệ sinh thái đem lại trong một năm là 8,365 tỷ đồng. Một phần giá trị đó là cung cấp sinh kế cho người đân địa phương từ 2 dạng chủ yếu.

- Đề tài đã xác lập được 05 luận cứ khoa học nhằm hài hòa giữa bảo tồn ĐDSH và sinh kế bền vững và phát triển KTXH ở Khu Dự trữ sinh quyển Cù Lao Chàm - Hội An là cơ sở cho xây dựng mô hình và đề xuất các giải pháp bảo tồn phát triển tài nguyên gắn với sinh kế cộng đồng.

- Đề tài đã xây dựng thử nghiệm 02 mô hình thực nghiệm gắn bảo tồn ĐDSH với sinh kế sử dụng tài nguyên có sự tham gia của doanh nghiệp và cộng đồng ở Khu Dự trữ sinh quyển Cù Lao Chàm- Hội An; đó là Mô hình phát triển du lịch sinh thái dựa vào bảo tồn ĐDSH tại xã Cẩm Thanh (lựa chọn cho vùng đệm) và Mô hình đồng quản lý phục hồi rạn san hô với sự tham gia của cộng đồng và doanh nghiệp tại khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm (lựa chọn cho vùng lõi). Cả 2 mô hình xây dựng thử nghiệm đã đạt hiệu quả cả về mặt môi trường, kinh tế, xã hội, bước đầu đóng góp cho bảo tồn ĐDSH và nâng cao mức sống cho người dân trong Khu Dự trữ sinh quyển.

- Đã đề xuất các giải pháp bảo tồn ĐDSH gắn với sử dụng tài nguyên và sinh kế Khu Dự trữ sinh quyển Cù Lao Chàm - Hội An với các giải pháp điều chỉnh phân vùng chức năng; nhóm giải pháp phát triển sinh kế bổ trợ và sinh kế thay thế; nhóm giải pháp đầu tư phát triển nguồn nhân lực đáp ứng công tác quản lý, bảo tồn; giải pháp xây dựng kế hoạch và gắn nhãn sinh thái cho các sản phẩm thương mại của Khu Dự trữ sinh quyển; giải pháp về kế hoạch hành động và cơ chế tài chính cho công tác bảo tồn ĐDSH; giải pháp phát triển du lịch sinh thái và giải pháp xây dựng bộ chỉ thị ĐDSH và quan trắc ĐDSH ở Khu Dự trữ sinh quyển.

Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần thúc đẩy Khu Dự trữ sinh quyển CLC - HA ngày càng phát huy hơn nữa vai trò tích cực trong việc bảo tồn các giá trị ĐDSH và DSVH đô thị cổ Hội An

Có thể tìm đọc báo cáo kết quả nghiên cứu (mã số 17938/2020) tại Cục Thông tin khoa học và công nghệ quốc gia.

Nguồn https://www.vista.gov.vn/news/ket-qua-nghien-cuu-trien-khai/luan-cu-khoa-hoc-nham-hai-hoa-moi-quan-he-giua-bao-ton-da-dang-sinh-hoc-voi-sinh-ke-ben-vung-va-phat-trien-kinh-te-xa-hoi-o-khu-du-tru-sinh-quyen-cu-lao-cham-hoi-an-5953.html

Thực tiễn phát triển kinh tế biển nói chung và du lịch biển nói riêng hiện đang đứng trước những vấn đề lớn như tăng dân số, ô nhiễm, xu hướng dâng lên của mực nước biển, thiên tai bất thường… Điều này đặt ra yêu cầu thực hiện những nghiên cứu một cách hệ thống bao trùm nhiều lĩnh vực, bao gồm vấn đề bảo vệ bờ biển và sự an toàn của người dân cũng như cơ sở hạ tầng dưới tác động của bão, lũ, sóng biển.

Cong trinh ve bien2022

Phần lớn các khu đô thị ven biển, các khu du lịch biển, các bờ đảo ở Việt Nam đều đang áp dụng giải pháp tường biển để bảo vệ ranh giới giữa biển và phần đất phía sau do những đặc điểm về cảnh quan và hạn chế về mặt bằng. Số lượng và quy mô của các tường biển này là khá lớn, nhưng do được xây dựng qua nhiều thời kỳ và do hạn chế về kỹ thuật, lại xây dựng tại vùng thường xuyên chịu tác động của sóng, bão, nước dâng đồng thời lại chịu tác động trực tiếp của biến đổi khí hậu, nước biển dâng nên tường biển thường xuyên bị hư hỏng, gây ảnh hưởng đáng kể tới sinh hoạt của công đồng dân cư cũng như gây thiệt hại tới cơ sở hạ tầng của các khu đô thị, du lịch ven biển. Hàng năm, các địa phương phải đầu tư kinh phí đáng kể để sửa chữa, xây dựng lại những tường biển bị hư hỏng này. Các tường biển không có mũi hắt sóng, hoặc có mũi hắt sóng chưa phù hợp sẽ tạo ra lưu lượng sóng bắn rất lớn, nhất là trong điều kiện bão, gió mùa, gây nguy hiểm cho khách du lịch và cộng đồng dân cư, gây mất an toàn cho các công trình xây dựng ven bờ. Từ thực tế trên, nhóm nghiên cứu của PGS. TS. Trần Thanh Tùng tại Trường Đại học Thủy lợi đã thực hiện đề tài: “Nghiên cứu chế tạo cấu kiện tường biển có mũi hắt sóng phục vụ xây dựng công trình bảo vệ bờ đảo và bờ các khu đô thị, khu du lịch ven biển” từ năm 2017 đến năm 2019.

Nhiệm vụ của đề tài là nghiên cứu chế tạo được các cấu kiện tường biển có mũi hắt sóng thân thiện với môi trường, cảnh quan, thuận tiện trong vận chuyển, lắp ghép, thi công và quản lí phục vụ xây dựng các công trình bảo vệ bờ đảo, bờ các khu đô thị và khu du lịch ven biển.

Sau hai năm nghiên cứu, đề tài đã thu được các kết quả như sau:

- Tổng quan các loại tường biển đã xây dựng ở Việt Nam và đề xuất và thiết kế chi tiết được một dạng tường biển áp dụng cho khu đô thị, du lịch ven biển Việt Nam. Nghiên cứu đã đề xuất 3 kiểu tường biển áp dụng cho các vùng miền cụ thể ở Việt Nam.

- Nghiên cứu xác định hiệu quả làm việc của tường biển bằng thí nghiệm bằng mô hình vật lý tỉ lệ nhỏ.

- Nghiên cứu đã đánh giá tổng thể độ bền và ổn định của tường biển bằng mô 270 hình toán ANSYS. Ba dạng tường biển đề xuất đã được xem xét nghiên cứu trên mô hình toán với ba kịch bản mực nước và thông số sóng khác nhau đại diện cho các tổ hợp sóng và mực nước ở 3 vùng Bắc, Trung, Nam của Việt Nam. Kết quả tính toán được đối sánh với kết quả đo đạc áp lực trong thí nghiệm mô hình vật lý thu nhỏ và kết quả tính toán trên mô hình toán máng sóng số. Nghiên cứu đã chỉ ra được vùng chịu áp lực lớn nhất của từng loại mặt cát và khuyến nghị biện pháp gia cố, tăng cường ổn định cho các dạng mắt cắt này. Ví dụ như mặt cắt dạng hình thang có mũi hắt sóng sẽ có chịu áp lực lớn tại vị trí mũi hắt và vị trí đáy của công trình nên cần có biện pháp neo vào bệ hoặc tăng cường liên kết tới móng công trình.

- Nghiên cứu đã thiết kế, sản xuất thử một số cấu kiện tường biển có mũi hắt sóng và lắp đặt thử nghiệm tại Đồ Sơn, Hải Phòng phục vụ theo dõi, đánh giá khả năng làm việc của tường biển trong thực tế. Tường biển sau khi được lắp đặt thử nghiệm tiếp tục được theo dõi và đo đạc chuyển vị, lún và cường độ bê tông. Các đợt đo đạc được thực hiện định kỳ theo thời gian và dự kiến sau các trận bão lớn hay hiện tượng thời tiết bất thường trong thời gian thử nghiệm. Ba dạng cấu kiện tường biển kiểu mái nghiêng, mặt đứng và mặt cong được lắp đặt với chiều dài đoạn tường biển thử nghiệm là 32 m. Cấu kiện tường biển thử nghiệm được lắp đặt trên bệ móng của tường biển cũ đã bị hư hỏng với chiều cao cấu kiện là 1,5 m; chiều dài 1,2 m; chiều rộng đỉnh 0,96 m; chiều rộng đáy 1,2 m. Đỉnh và lưng các cấu kiện được đổ giằng bê tông để tăng sự ổn định và thẩm mỹ. Sau khi lắp đặt hoàn chỉnh, đoạn tường thử nghiệm được định kỳ theo dõi chuyển vị, lún và kiểm tra cường độ bê tông.

Việc nghiên cứu và thử nghiệm thành công các cấu kiện tường biển có mũi hắt sóng mang tính linh hoạt cao, có khả năng lắp ghép, thay thế thuận tiện sẽ là giải pháp hiệu quả trong việc bảo vệ bờ biển của các đô thị, khu du lịch trải dài trên 28 tỉnh, thành phố ven biển và bờ của các đảo ven bờ.

Có thể tìm đọc báo cáo kết quả nghiên cứu (mã số 17937/2020) tại Cục Thông tin khoa học và công nghệ quốc gia.

Nguồn https://www.vista.gov.vn/news/ket-qua-nghien-cuu-trien-khai/nghien-cuu-che-tao-cau-kien-tuong-bien-co-mui-hat-song-phuc-vu-xay-dung-cong-trinh-bao-ve-bo-dao-va-bo-cac-khu-do-thi-khu-du-lich-ven-bien-5946.html

 

Tìm kiếm...

2

Dan hoi GD So tra loi
bkhcn
DCS-VN chinh-phu
tap chi KHCN Báo Khoa học & Phát triển
NASATI Varans

 

Logo DVC 123 

Thống kê truy cập

2431232
Hôm nay
Hôm qua
Tuần này
Tuần trước
Tháng này
Tháng trước
Tất cả các ngày
138
614
1840
2425378
4728
23230
2431232

Your IP: 3.236.47.240
2023-02-08 01:58