DO LUONG

ung dung

thong ke

DOLUONG

QUYPHAT

cam cao phong

Theo PGS-TS Lê Tất Khương, với điều kiện của Việt Nam, chỉ cần ứng dụng một phần công nghệ của Israel thôi, những phần còn lại cần nội địa hóa thì giá thành mới rẻ, mới chấp nhận được. Đây là chỗ mà các nhà khoa học Việt Nam cần phát huy vai trò của mình.

Cách đây vài năm, Hadico - một doanh nghiệp nhà nước của Hà Nội - bỏ ra 8 tỷ đồng để nhập nguyên dây chuyền sản xuất nông nghiệp công nghệ cao (CNC) của Israel về phục vụ dự án xây dựng khu trồng hoa hàng hóa tập trung tại hai xã Tây Tựu và Liên Mạc.
 
Nhưng sau khi xây dựng xong, khu CNC này hầu như không hoạt động. Trong nhiều nguyên nhân được đưa ra để giải thích cho sự thất bại của dự án, một nguyên nhân được nhấn mạnh là vốn đầu tư quá lớn; toàn bộ trang thiết bị phải nhập từ nước ngoài khiến giá thành sản phẩm cao, thị trường bị co hẹp.
 
Là một người tâm huyết với việc phát triển CNC trong nông nghiệp Việt Nam, PGS-TS Lê Tất Khương - Viện trưởng Viện Nghiên cứu và phát triển vùng - cho rằng để không trở thành phong trào "đầu voi đuôi chuột", cần làm sao để sản xuất CNC mà giá thành không quá cao.
rau khi canhb01

Muốn vậy, khi học tập các nước thành công về nông nghiệp CNC như Israel, không nên bê nguyên công nghệ của họ, vốn được phát triển để thích ứng với điều kiện tự nhiên vùng sa mạc khắc nghiệt. “Với điều kiện của Việt Nam, chỉ cần ứng dụng một phần công nghệ của Israel thôi, những phần còn lại cần nội địa hóa thì giá thành mới rẻ, mới chấp nhận được. Đây là chỗ mà các nhà khoa học Việt Nam cần phát huy vai trò của mình” - ông Khương nói.

Ứng dụng CNC trong khâu nào của chuỗi sản xuất cũng là điều cần tính đến để giảm tối đa chi phí mà vẫn đảm bảo hiệu quả. “Chỉ ứng dụng CNC vào những khâu có thể tạo đột phá. Chẳng hạn, với trồng lúa, Israel phải ứng dụng CNC bởi điều kiện rất khắc nghiệt và họ không có điều kiện trồng theo cách khác. Còn ở Việt Nam, lúa gạo sản xuất theo quy trình thường đã cho năng suất tốt, nếu trồng theo CNC, năng suất không tăng nhiều mà giá thành vọt lên. Chúng ta nên tập trung CNC vào khâu tạo giống, để có những giống lúa vượt trội về chất lượng, chống chịu sâu bệnh, biến đổi khí hậu” - PGS Khương chia sẻ - “Ngoài ra, sự yếu kém của công nghiệp hỗ trợ phục vụ mảng sản xuất này cũng là một nguyên nhân khiến giá thành vẫn rất cao”.

Tại hội thảo về nâng cao năng suất, chất lượng các sản phẩm chủ lực vùng Nam Trung Bộ và Tây Nguyên, được tổ chức mới đây tại Đà Lạt với sự tham dự của Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Trần Quốc Khánh, các đại biểu cũng coi vấn đề công nghiệp hỗ trợ là một thách thức không nhỏ. Việc phải nhập khẩu đa số thiết bị, vật tư phục vụ sản xuất nông nghiệp CNC khiến giá thành sản phẩm tăng cao, khó mở rộng thị trường.

Tình trạng phụ thuộc nguồn cung nhập khẩu chỉ chấm dứt khi có doanh nghiệp trong nước tham gia đầu tư và thành công; nhưng trong hình hình nguồn vật tư, thiết bị phục vụ nông nghiệp CNC còn nhỏ bé, doanh nghiệp vừa đợi thị trường phát triển, vừa mong cơ chế ưu đãi của Nhà nước cũng như kết quả nghiên cứu và phát triển của giới khoa học. Và một lần nữa, bài toán truyền thống về sự liên kết chặt chẽ các nhà - nhà khoa học, Nhà nước, nhà doanh nghiệp - lại được đặt ra để mong tìm lời giải thiết thực nhất.

Luật Chuyển giao công nghệ (sửa đổi) chính thức được Quốc hội bấm nút thông qua chiều 19/6 đã cụ thể hóa chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với hoạt động chuyển giao công nghệ. Luật Chuyển giao công nghệ (sửa đổi) chính thức tập trung đẩy mạnh chuyển giao công nghệ tiên tiến, công nghệ cao từ nước ngoài vào Việt Nam; khuyến khích chuyển giao công nghệ từ Việt Nam ra nước ngoài và thúc đẩy chuyển giao công nghệ trong nước. Đồng thời, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp cũng như tạo điều kiện thuận lợi cho tổ chức, cá nhân hoạt động chuyển giao công nghệ; phát triển thị trường khoa học công nghệ… nâng cao trình độ, tiềm lực công nghệ quốc gia nhằm bảo đảm quốc phòng, an ninh, phát triển nhanh và bền vững kinh tế xã hội. Sau khi Quốc hội thông qua, phóng viên đã có cuộc trao đổi với Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Chu Ngọc Anh về những nội dung liên quan đến Luật.

BT Chu Ngoc Anh

 Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Chu Ngọc Anh
Phóng viên (PV): Bộ trưởng có thể đánh giá ý nghĩa của việc ban hành Luật Chuyển giao công nghệ (sửa đổi) trước tình tình khu vực và thế giới đang bước vào cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4?

Bộ trưởng Chu Ngọc Anh: Trong bối cảnh toàn cầu hóa, tự do hóa thương mại xóa bỏ các hàng rào bảo hộ giữa các quốc gia và cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 với các công nghệ thế hệ mới đã và sẽ tác động mạnh mẽ tới các quốc gia đang phát triển như Việt Nam, mở ra cơ hội và thách thức đối với các doanh nghiệp và cơ quan quản lý, hoạch định chính sách về chuyển giao công nghệ.

Làn sóng đổi mới công nghệ tốc độ cao song hành với hội nhập và tự do hóa thương mại toàn cầu sẽ tạo sức ép cạnh tranh, buộc các doanh nghiệp phải rà soát lại mô hình kinh doanh; cải thiện phương thức cung cấp sản phẩm, dịch vụ; không ngừng đổi mới công nghệ. Kỷ nguyên số với các công nghệ mới, nền tảng điều hành mới sẽ tác động mạnh mẽ tới hoạt động quản lý nhà nước về công nghệ, thẩm định và chuyển giao công nghệ các dự án đầu tư theo hướng đảm bảo môi trường kinh doanh thuận lợi, thông thoáng, thu hút đầu tư nước ngoài để gia tăng nguồn lực phát triển đất nước, đồng thời phải kiểm soát được thực trạng công nghệ, đặc biệt là công nghệ trong các dự án đầu tư để đảm bảo gìn giữ môi trường và phát triển bền vững.

Trước bối cảnh phát triển kinh tế - xã hội đất nước, khu vực và thế giới có nhiều thay đổi, Bộ Khoa học và Công nghệ đã rà soát nội dung của Luật Chuyển giao công nghệ để có điều chỉnh phù hợp, đáp ứng kịp thời các yêu cầu mới phát sinh từ thực tiễn cũng như bảo đảm sự thống nhất, đồng bộ và hiệu lực thi hành của Luật, khắc phục những vướng mắc, bất cập của Luật Chuyển giao công nghệ ban hành năm 2006.

Luật Chuyển giao công nghệ sửa đổi sẽ tạo môi trường pháp lý thuận lợi thúc đẩy hoạt động chuyển giao công nghệ, đổi mới công nghệ, thương mại hóa và ứng dụng các thành tựu khoa học và công nghệ hiện đại, lành mạnh hóa thị trường công nghệ và môi trường kinh doanh ở Việt Nam, góp phần nâng cao năng lực công nghệ của quốc gia và doanh nghiệp, thúc đẩy chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động và sức cạnh tranh của nền kinh tế đi đôi với kiểm soát công nghệ chuyển giao.

PV: Xin Bộ trưởng cho biết Luật Chuyển giao công nghệ sửa đổi có những điểm mới căn bản nào và có hoàn toàn giải quyết được những vướng mắc, bất cập?

Bộ trưởng Chu Ngọc Anh: Luật Chuyển giao công nghệ sửa đổi có nhiều điểm mới và có thể giải quyết được cơ bản những vướng mắc, bất cập. Điểm mới của Luật đã ưu tiên nguồn lực cho hoạt động chuyển giao công nghệ trong nông nghiệp, nông thôn khi quy định một số chính sách, biện pháp thúc đẩy hoạt động thương mại hóa kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, giải quyết các vấn đề thực tiễn sản xuất đặt ra, thu hút nguồn lực của xã hội cho hoạt động này.

Cụ thể: Tổ chức, cá nhân tự đầu tư nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ sau khi có kết quả chuyển giao, ứng dụng hiệu quả trong thực tiễn, được cơ quan quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ công nhận thì được hỗ trợ kinh phí từ ngân sách nhà nước.

Trường hợp kết quả có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển của đất nước thì Nhà nước sẽ xem xét mua kết quả đó. Tổ chức khoa học và công nghệ sở hữu kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ có hoạt động liên kết với tổ chức ứng dụng, chuyển giao công nghệ địa phương được hỗ trợ từ ngân sách nhà nước để hoàn thiện kết quả phù hợp đặc thù địa phương.

Luật quy định cơ chế hỗ trợ của Nhà nước đối với các cá nhân thuộc các viện nghiên cứu, cơ sở giáo dục đại học hoạt động nghiên cứu chuyển giao, ứng dụng, đổi mới công nghệ tại các cơ sở sản xuất, kinh doanh nhằm khuyến khích nghiên cứu giải quyết những vấn đề cấp bách thực tiễn đặt ra.

Cụ thể hóa chủ trương của Đảng và nhà nước trong việc tái cấu trúc nông nghiệp, phát triển nông nghiệp, nông thôn phù hợp với với nền sản xuất hàng hóa, Luật đã bổ sung chính sách ưu tiên bố trí nguồn lực đầu tư cho hoạt động chuyển giao công nghệ trong nông nghiệp, nông thôn.

Điểm mới của Luật Chuyển giao công nghệ đã tạo thuận lợi nhiều hơn cho doanh nghiệp khi vấn đề giao quyền sở hữu và quyền sử dụng công nghệ sửa đổi theo hướng hoàn chỉnh và tiến bộ hơn, tạo thuận lợi cho tổ chức chủ trì việc thương mại hóa kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ.

Doanh nghiệp được sử dụng quỹ phát triển khoa học và công nghệ của doanh nghiệp để đầu tư, đối ứng vốn, nhận vốn đối ứng đầu tư cho hoạt động đổi mới công nghệ, ươm tạo công nghệ, khởi nghiệp sáng tạo, thương mại hóa kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ.

Quy định này giúp các doanh nghiệp mở rộng nội dung chi của Quỹ nhằm tối ưu hóa hiệu quả sử dụng cho hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ của doanh nghiệp.

Luật cũng đã bổ sung thêm một số cơ chế hỗ trợ doanh nghiệp ứng dụng, đổi mới công nghệ nhằm nâng cao năng lực hấp thụ công nghệ. Đặc biệt là việc thừa nhận các quyền sở hữu, quyền sử dụng, quyền khác phát sinh từ kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, đối tượng sở hữu trí tuệ có thể xác định được giá trị là quyền tài sản, là tài sản bảo đảm cho giao dịch vay vốn đầu tư từ Quỹ Đổi mới công nghệ Quốc gia, Quỹ Phát triển Khoa học công nghệ Quốc gia và các tổ chức tín dụng. Đối với phát triển thị trường khoa học công nghệ, Luật đã bổ sung các quy định mở đường cho phát triển nguồn cung-cầu công nghệ; mua sáng chế, sáng kiến được áp dụng hiệu quả ở quy mô nhỏ để chuyển giao cho doanh nghiệp, cộng đồng. Hợp tác công tư trong phát triển các trung gian của thị trường khoa học và công nghệ (xây dựng hạ tầng kỹ thuật, hỗ trợ hoạt động của sàn giao dịch công nghệ quốc gia, trung tâm hỗ trợ khởi nghiệp công nghệ quốc gia); đào tạo nguồn nhân lực cho tổ chức trung gian và hỗ trợ nâng cao năng lực khai thác thông tin về công nghệ trong nước và nước ngoài.

Đặc biệt, xuất phát từ nhu cầu thực tiễn cần tăng cường kiểm soát công nghệ, Luật được thông qua lần này đã dành một chương quy định về thẩm định công nghệ các dự án đầu tư. Việc tăng cường kiểm soát cần bảo đảm không làm tăng “gánh nặng” và “rào cản” về thủ tục hành chính đối với doanh nghiệp, đồng thời, tránh được các xung đột pháp luật với các đạo luật hiện hành liên quan.

Trong quá trình soạn thảo Luật, Bộ Khoa học và Công nghệ đã phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành để lồng ghép thủ tục thẩm định công nghệ các dự án đầu tư vào quy trình xem xét chủ trương đầu tư và quyết định đầu tư, bảo đảm sự phối hợp đồng bộ giữa các cơ quan quản lý.

Để kiểm soát, ngăn chặn công nghệ lạc hậu nhập vào Việt Nam, ngoài quy định về thẩm định công nghệ, Luật cũng sửa đổi tiêu chí xác định công nghệ khuyến khích chuyển giao, công nghệ hạn chế chuyển giao và công nghệ cấm chuyển giao; bổ sung cơ chế quản lý đối với từng loại công nghệ, bảo đảm nắm được các luồng công nghệ chuyển giao.

Để ngăn ngừa tình trạng chuyển giá, trốn thuế xảy ra thời gian qua, Luật bổ sung quy định về việc kiểm toán giá công nghệ chuyển giao đối với 3 loại đối tượng (chuyển giao công nghệ giữa các bên mà một hoặc nhiều bên có vốn nhà nước, giữa các bên có quan hệ theo mô hình công ty mẹ - con và giữa các bên có quan hệ liên kết theo quy định pháp luật về thuế).

Đồng thời, bổ sung quy định về thẩm định giá đối với công nghệ góp vốn trong trường hợp dự án đầu tư có sử dụng vốn nhà nước.

nhan giong ca phe che01

Cà phê chè (C. arabica L.) là loài có giá trị kinh tế nhất trong số các loài cây cà phê do có chất lượng nước uống cao hơn hẳn cà phê vối. Hai giống cà phê chè mới TN1,, TN2 là con lai thế hệ F1 (TN1 con lai giữa KH3-1 x Catimor; TN2 con lai giữa Catimor x KH4) do Viện KHKT Nông lâm nghiệp tạo ra có năng suất cao, kháng được bệnh gỉ sắt, kích thước hạt lớn và có chất lượng nước uống cao; những giống này đã được Bộ Nông nghiệp và PTNT công nhận giống mới vào năm 2012, đây là 2 giống cần được phổ biến ra sản xuất. Tuy nhiên chi phí sản xuất hạt giống lai rất cao và khó sản xuất được với khối lượng lớn. Để cung cấp giống với số lượng lớn ra sản xuất cần tiếp tục chọn lọc phả hệ đến thế hệ F5 hay F6 để có được dòng thuần, nhưng cách này tốn khá nhiều thời gian và công sức, tiền của. Vì vậy để nhân nhanh với khối lượng lớn và chi phí thấp, các giống này cần được nhân bằng con đường vô tính. Tuy nhiên sử dụng các phương pháp nhân giống vô tính thông thường (như ghép, giâm cành) đã không đáp ứng được nhu cầu ngày càng lớn của người dân về tái canh (do diện tích cà phê già cỗi ngày càng tăng). Vì vậy ứng dụng công nghệ mới nhân các giống mới sẽ đảm bảo cho quá trình cung cấp giống được tốt hơn, các giống đảm bảo yêu cầu về chất lượng và nguồn gốc, không bị phân ly trong quá trình sản xuất và đặc biệt là đủ số lượng yêu cầu của thị trường trong những năm tiếp theo.


Công nghệ Bioreactor là một công nghệ nhân giống in vitro mới đang được ứng dụng trên nhiều loại cây trồng nhằm tăng nhanh sự phát triển của phôi, tạo thành cây, tăng tỷ lệ phát triển đồng đều, tăng tỷ lệ phát triển rễ cọc đảm bảo cho cây phát triển tốt. Tại các nước Pháp, Thái Lan, Inđônêxia việc ứng dụng các công nghệ này đã trở nên phổ biến, đặc biệt tại Inđônêxia hằng năm đã cung cấp cho thị trường hàng triệu cây nuôi cấy mô từ các giống được nghiên cứu ra. Trong khi ở Việt Nam việc nghiên cứu ứng dụng công nghệ này mới ở giai đoạn đầu và hầu như chưa có nhiều nghiên cứu để sản xuất cây giống cà phê.

Phương pháp sử dụng bioreactor trong quá trình nuôi cấy sẽ khắc phục các nhược điểm của phương pháp nuôi cấy mô thông thường và đảm bảo cho việc cung cấp đủ các giống có đặc tính tốt, có bộ rễ đảm bảo và đạt tiêu chuẩn cây trồng, có thể làm giảm thời gian sản xuất cây cà phê 3-4 tháng. Ngoài ra các cây con cà phê có thể chuyển giao trực tiếp cho người nông dân ở xa nên việc vận chuyển cây dễ dàng và đảm bảo tỷ lệ sống cao. Nghiên cứu ứng dụng này cũng là một tiền đề để tiếp tục nghiên cứu nhân nhanh các giống sẽ được công nhận trong thời gian tới và là phương thức nhanh nhất để đưa những giống này ra thị trường, đến được tay người nông dân có nhu cầu. Với ước tính hằng năm tái canh 1-3% diện tích cà phê chè (khoảng 1000-3000 ha) thì khối lượng cây giống cà phê chè cần phải sản xuất là 5-15 triệu cây giống/năm. Đây là một lượng giống rất lớn mà chỉ có phương pháp nuôi cấy mô từ phôi soma có sử dụng bioreactor mới đáp ứng được.

Bên cạnh đó khi mở rộng diện tích cà phê chè, việc thay thế các giống cà phê chè cũ cũng được đặt ra để nâng cao giá trị trên vườn cây tại các vùng trồng thích hợp đối với cà phê chè tại Tây Nguyên như: Daklak, Lâm Đồng, Kontum, Gia Lai nên nhu cầu về giống chất lượng cao khá lớn. Việc sử dụng các phương pháp thông thường nhân giống đã không đáp ứng được yêu cầu 3 nên việc sử dụng công nghệ nhân in vitro có sử dụng bioreactor là một hướng đi có tính khả thi cao.

Với những lý do trên, Cơ quan chủ trì: Viện Khoa học Kỹ thuật Nông lâm nghiệp Tây Nguyên cùng phối hợp với Chủ nhiệm đề tài: TS. Nguyễn Văn Thường cùng thực hiện đề tài “Nghiên cứu xây dựng hệ thống nhân giống cây cà phê chè (Coffea Arabica) bằng công nghệ bioreactor” với mục tiêu xây dựng được quy trình công nghệ và hệ thống nhân giống cây cà phê chè (Coffea Arabica) bằng công nghệ bioreactor phục vụ tái canh cà phê ở Tây Nguyên.

Qua thời gian nghiên cứu đề tài đã thu được những kết quả như sau:
Nghiên cứu xây dựng quy trình nhân giống cây cà phê Arabica bằng công nghệ Bioreactor: Mẫu lá vị trí thứ 2 của cây 24 tháng tuổi, khử trùng Calcium Hypochlorite 10%, sau 15 ngày tỷ lệ mẫu sạch đạt 90,74%. Mẫu lá trên môi trường MS, có vitamin B5, bổ sung 2,4D 1 mg/l và Kin 2 mg/l, cấy chuyển 3 lần trong 4 tháng tạo mô sẹo cao >46%. Mô sẹo cấy lên môi trường 1/2MS, vitamin B5, bổ sung 2ip 0,5 mg/l, khối lượng mô sẹo 250mg/100ml môi trường, vận tốc máy lắc 100 vòng/phút sau 2,5 tháng mô sẹo tăng lên >6 lần. Mô sẹo cấy lên MS1/2 lỏng, thể tích môi trường 400 ml, pH 5,8 và cứ 15 ngày thay mới môi trường một lần, sau 2,5 tháng số phôi đạt cao >1500 phôi/1g mô sẹo. Phôi cấy lên môi trường MS1/2, đường 10 g/l, thời gian sục khí 1 phút sau mỗi chu kỳ 6 giờ, thể tích môi trường trong bình RITA 300ml, pH 5,8. Sau 2,5 tháng tỷ lệ cây lá mầm đạt >88%. Tạo cây hoàn chỉnh thích hợp trong bình tam giác, sau 2,5 tháng giúp cây phát sinh cặp lá thật 81,6%, tỷ lệ ra rễ đồng đều (90,3%) và cây không bị thủy tinh thể.

Nghiên cứu qui trình trồng cây cà phê nuôi cấy mô ngoài đồng ruộng: Chiều cao từ 2 cm có 2-3 cặp lá thật, cấy vào khay xốp có kích thước lỗ khay 3,5 cm x10cm (tương đương 84 lỗ/khay 50 x 30 x 10 cm) gồm giá thể 1 đất: 1 Xơ dừa: 1 trấu hun, che sáng 80 %, tưới nước 2 lít/m2 2 ngày /lần, phun liều lượng khoáng MS là 40 ml/1000 ml. Sau 4 tháng huấn luyện tỷ lệ cây sống >85%, chiều cao >4cm, số cặp lá > 3 cặp, chiều dài rễ 4cm. Cây có 3 cặp lá, cao 4,5 cm, cấy vào bầu đất có thành phần là 7 đất: 2 trấu hun: 1 phân chuồng, che sáng 60 %, tưới 2,5 lít/m2/lần cứ 2 ngày/lần, phun phân 18 bón lá NUCAFE với nồng độ 0,2 % chu kỳ phun 2 tuần phun một lần. Sau 3 tháng tỷ lệ cây sống >81%, chiều cao đạt >18 cm, số cặp lá >8 cặp, chiều dài rễ cọc >18 cm, đường kính thân 0,23 cm. Bước đầu đánh giá được Công thức 3 (N 100kg; P2O5 210kg; K2O 90kg) cây sinh trưởng tốt, thí nghiệm cây che bóng và mật độ chưa thấy sự khác biệt giữa các công thức. Giữa cây thực sinh và cây in-vitro chưa có sự khác biệt về hình dạng và sinh trưởng.

Quy trình trồng và chăm sóc cây ngoài đồng ruộng: Kế thừa quy trình kỹ thuật trồng chăm sóc và thu hoạch cà phê chè, Bộ Nông nghiệp và PTNT ban hành năm 2002; Thay thế mục tiêu chuẩn cây giống (phát triển từ hạt) bằng cây giống nuôi cấy mô; Sửa đổi khoảng cách mật độ trồng cà phê, cây che bóng tạm thời và liều lượng phân bón khoáng cho năm trồng mới: Độ dốc dưới 8 độ: khoảng cách trồng 2,0 m x 1,5 m (3.333 cây/ha) Độ dốc trên 8 độ: khoảng cách trồng 2,0 m x 1,25 m (4.000 cây/ha). Cây che bóng: Gieo hạt vào đầu mùa mưa giữa hai hàng cà phê; khoảng 3 - 4 hàng cà phê gieo một hàng muồng. Liều lượng phân bón thay liều lượng và thời điểm bón phân cho vùng Tây Nguyên.

Kết quả của đề tài sẽ là một bước đệm quan trọng trong nghiên cứu nhân nuôi cấy mô tế bào trên các giống cà phê nói riêng và các loại cây thân gỗ nói chung. Sự thành công của đề tài sẽ mở ra hướng mới cho nghiên cứu về công nghệ bioreactor trên các loại cây trồng khác, mở ra một hướng mới về sản xuất các loại giống bằng công nghệ tế bào. Kết quả nghiên cứu mới nhất về nuôi cấy mô cà phê chè tại Việt Nam sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích cho các nghiên cứu mới, mở ra nhiều triển vọng về hợp tác quốc tế và tổ chức các hội thảo quốc gia và quốc tế. Đây cũng là một thành tựu chứng tỏ trình độ khoa học công nghệ của Việt Nam về cà phê là đứng hàng đầu của thế giới, đặc biệt là về giống cà phê.

Thông thường cần 5-10 năm để đưa 1 giống cà phê được nghiên cứu và tạo ra vào sản xuất, thâm chí có thể lên tới 12-15 năm bởi việc sản xuất giống bằng các phương pháp thông thường với hệ số nhân thấp nên tạo ra số lượng cây lớn rất khó khăn. Đây là một trong những nghiên cứu quan trọng để tạo ra hướng sản xuất để đưa nhanh các giống cà phê đã được nghiên cứu và tạo ra vào sản xuất, rút ngắn thời gian từ nghiên cứu tới ứng dụng vào thực tiễn. Các giống mới đưa vào sản xuất nhanh chóng sẽ là cơ hội nâng cao sản lượng cà phê chè chất lượng cao, từ đó nâng cao giá trị xuất khẩu và thu nhập cho người dân, góp phần phát triển kinh tế và xã hội của các tỉnh Tây Nguyên.

Kết quả nghiên cứu được triển khai sẽ chấm dứt tình trạng sản xuất giống không có nguồn gốc, không đúng giống, chất lượng thấp và giá thành cao. Đồng thời tăng cường được công tác giám sát về sản xuất giống của cơ quan quản lý giống, từ đó đảm bảo cho người nông dân mua được giống đúng nguồn gốc, đúng chất lượng, xóa bỏ được hiện tượng giống giả, giống kém chất lượng. Mặt khác, người nông dân, đồng bào dân tộc thiểu số khi sử dụng giống này để trồng mới hoặc tái canh thì sẽ làm tăng năng suất vườn cây, giảm chi phí giá thành trên đầu sản phẩm, từ đó tăng lợi nhuận cho người nông dân, làm ổn định đời sống vật chất cho người trồng cà phê (trong đó có đồng bào dân tộc thiểu số), làm ổn định đời sống xã hội trong vùng làm ổn định về năng suất, chất lượng của sản phẩm cà phê nhân Việt Nam, từng bước xây dựng được thương hiệu mạnh cho cà phê Việt Nam trên thị trường quốc tế.

Nguồn http://www.vista.gov.vn

chuyen gen ngo01

Ở Việt Nam, ngô được trồng tại nhiều vùng, nhiều vụ khác nhau, chủ yếu dựa vào nước trời. Theo số liệu sơ bộ của Tổng cục Thống kê, năm 2014 diện tích trồng ngô ước đạt 1.177,5 nghìn ha, năng suất bình quân 4,41 tấn/ha và sản lượng ước đạt 5.191,7 nghìn tấn. Tuy vậy, năng suất ngô trong nước vẫn thấp hơn năng suất bình quân năm 2013 của châu Á là 5,12 tấn/ha và của thế giới là 5,52 tấn/ha, đặc biệt năng suất ngô bình quân của Việt Nam thấp hơn rất nhiều so với năng suất trung bình của Mỹ năm 2013 là 7,39 tấn/ha. Sản xuất ngô ở nước ta hiện vẫn chưa tương xứng với tiềm năng, chưa đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng trong nước, năm 2014 nước ta vẫn phải nhập khẩu khoảng 4.794,9 nghìn tấn ngô. Nguyên nhân là do phần lớn diện tích ngô của nước ta trồng trên diện tích đồi núi khô hạn, không có điều kiện tưới nước, canh tác chủ yếu dựa vào nguồn nước trời. Điều này hạn chế rất lớn đến khả năng tăng năng suất và sản lượng ngô hàng năm của nước ta và ảnh hưởng rất nghiêm trọng trong những năm có điều kiện thời tiết bất thuận, nắng nóng kéo dài... Do đó, chọn tạo giống ngô chịu hạn là một trong những giải pháp được đặt lên hàng đầu và có tính khả thi cao.


Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn sản xuất, để từng bước nghiên cứu và hoàn thiện quy trình công nghệ chuyển gen vào cây ngô, nhóm nghiên cứu do TS. Bùi Mạnh Cường, Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam đứng đầu đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu chuyển gen nâng cao tính chịu hạn vào một số dòng ngô bố mẹ đang được áp dụng trong sản xuất”. Đây là đề tài thuộc Chương trình trọng điểm cấp Nhà nước về Nghiên cứu phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học từ năm 2012 đến năm 2015 nhằm chuyển gen nâng cao tính chịu hạn vào các dòng ngô bố mẹ để nhanh chóng tạo ra các giống ngô chuyển gen phục vụ sản xuất.

ngo ra bap01

Sau một thời gian nghiên cứu, nhóm nghiên cứu đã thu được được các kết quả như sau:
- Đã thu thập được 15 nguồn vật liệu tại các vùng Tây Bắc và Tây Nguyên, qua đánh giá đặc điểm nông sinh học đã xác định được 5 nguồn ưu tú là B163, P4092, PAC746, TG8327, X7A305 được sử dụng làm vật liệu tạo dòng cho các nghiên cứu sau này của đề tài.
- Nghiên cứu và xây dựng được quy trình tái sinh cây ngô từ nuôi cấy phôi non. Xác định được 4 dòng ngô là V152N, C7N và C436 có khả năng tái sinh cây cao phục vụ cho các thí nghiệm chuyển gen.
- Đã phân lập, tổng hợp và thiết kế được 03 vector biểu hiện thực vật mang các cấu trúc gen Act::HVA1::Nos ; ubi::ZmDREB2A::35S; CaMV35S::modiCspB::35S sử dụng để chuyển gen vào cây ngô.
- Đã thử nghiệm từng bước và xây dựng được quy trình chuyển gen chịu hạn vào cây ngô sử dụng vi khuẩn Agrobacterium tumefaciens. Đánh giá hiệu quả của quy trình này trên 2 nguồn vật liệu và 2 gen chuyển là modiCspB và ZmDREB2A đã xác định được tỷ lệ chuyển gen của các nguồn vật liệu đạt từ 0,28-0,83%.
- Đề tài đã tiến hành biến nạp 03 vector mang gen chịu hạn vào 03 dòng ngô có khả năng tái sinh cây cao, kết quả đã thu được 30 cây T0 chuyển gen ZmDREB2A, 28 cây T0 chuyển gen HVA1 và 33 cây chuyển gen modiCspB. Tổng cộng số cây T0 hữu thụ mang gen được xác định thông qua PCR thu được là 91 cây của cả 03 gen chuyển. Đề tài cũng đã tiến hành phân tích PCR với 910 cây T1 và xác định được 700 cây mang gen. Kết quả phân tích Southern blot với các cây T1 chuyển gen đã xác định được tổng cộng 11 cây dương tính, trong đó: 04 cây chuyển gen ZmDREB2A (dòng V152N: 02 cây, dòng dòng C436: 01 cây và dòng C7N: 01 cây) và 07 cây chuyển gen modiCspB (dòng V152N: 03 cây, dòng C436: 02 cây và dòng C7N: 02 cây).
- Đã xác định được 02 dòng chuyển gen modiCspB là V152N và C436 và 02 dòng chuyển gen ZmDREB2A là V152N, C7N có khả năng chịu hạn nhân tạo ở giai đoạn cây con có tỷ lệ cây sống cao hơn đối với các dòng nền từ 20-28,33%. Đánh giá khả năng kết hợp về năng suất của các dòng chuyển gen chịu hạn trong cho thấy các dòng chuyển gen vẫn giữ được đặc tính về khả năng kết hợp đối với tính trạng năng suất hạt khô như dòng nền, vì vậy có thể sử dụng các dòng ngô chuyển gen vào lai tạo để tạo giống ngô lai chuyển gen.

Những quả nghiên cứu này là khâu khởi đầu rất quan trọng, đặt cơ sở cho việc nghiên cứu tạo các giống ngô chuyển gen chịu hạn trọng nước, do đó nhóm nghiên cứu cũng đề nghị cần tiếp tục phân tích các cây/dòng ngô chuyển gen ở mức độ sâu và rộng hơn nữa, từ đó có cơ sở công bố các sự kiện chuyển gen chịu hạn và đánh giá tính ổn định của các gen chuyển và tiến hành lai thử, đánh giá các tổ hợp lai trong điều kiện hạn thực tế để từ đó phát triển các giống ngô chuyển gen.

Nguồn http://www.vista.gov.vn

Cong nghe quan ly dat trong01

Năng suất của đất phụ thuộc vào khả năng đất cung cấp các điều kiện vật lý, hóa học, sinh học và độ ẩm để duy trì sự tăng trưởng thực vật. Nhằm nâng cao năng suất nông nghiệp, các nhà khoa học đã nghiên cứu các công nghệ giúp phục hồi và duy trì cấu trúc vật lý của đất, nâng cao hiệu quả việc sử dụng nước và chất dinh dưỡng cũng như cải thiện bầu rễ nơi vi khuẩn tương tác với rễ của thực vật. Hàm lượng và cấu trúc của các loại đất ở các vùng khác nhau có sự khác biệt đáng kể, và khí hậu cũng vậy, do đó, những công nghệ ứng dụng trong quản lý đất cục bộ là cần thiết. Các hoạt động sản xuất nông nghiệp hiện nay sử dụng một số các công nghệ nhằm duy trì năng suất đất và cải thiện dinh dưỡng đất như: tạo lớp phủ, sử dụng phân bón, luân canh cây trồng, tạo đường bao quanh, canh tác bảo tồn và không cày, kiểm soát thủy lợi, quản lý dinh dưỡng đất, cố định đạm sinh học, kiểm soát sử dụng phân bón. Carbon hữu cơ trong đất (SOC) tương quan mạnh mẽ với năng suất đất, ví dụ, ở Ấn Độ, khi những hoạt động trong quản lý đất giúp làm tăng SOC, sản lượng cũng đã tăng gấp 4,7 lần.


Công nghệ cố định ni-tơ cho thực vật không thuộc họ đậu
Chuyển gen. Vì nitơ trong đất được coi là không đủ cho sự tăng trưởng của cây, nên phân bón hóa học được sử dụng cho hầu hết các loại cây trồng. Vi khuẩn có khả năng chuyển đổi nitơ trong khí quyển sang dạng có thể được thực vật sử dụng để cố định ni-tơ. Trong các loại cây họ đậu tồn tại một mối quan hệ cộng sinh giữa các vi khuẩn Rhizobia cố định đạm và nấm rễ tương tác với rễ thực vật để cung cấp nitơ cho thực vật. Trong nhiều năm qua, các nhà khoa học đã nghiên cứu các cách thức chuyển hóa khả năng cố định đạm của thực vật họ đậu sang các loài cây trồng khác như ngũ cốc, tuy nhiên họ vẫn chưa đạt được thành công. Năm 2008, các nhà khoa học tại Viện nghiên cứu phát triển và Đại học Munich đã tìm ra các yếu tố di truyền trong cây họ đậu có khả năng cố định đạm. Đây có thể là bước đầu tiên trong quá trình phát triển công nghệ chuyển gen để thiết lập khả năng cố định đạm cho các cây trồng thuộc loại ngũ cốc như gạo, ngô và lúa mì. Tuy nhiên, đó mới chỉ là bước đầu tiên bởi cần chuyển tối thiểu 10 gen sang loài thực vật không thuộc họ đậu để làm cho chúng cóvới khả năng cố định nitơ.

Hỗ trợ tiến hóa. Sự phát triển khả năng cố định nitơ trong các loài không thuộc họ đậu bằng hỗ trợ tiến hóa là một hướng nghiên cứu nhằm phát triển khả năng cố định đạm cho loài cây phi họ đậu. Phương pháp này đòi hỏi phải thực hiện cải thiện di truyền từng bước của cả vi khuẩn cố định đạm và cây chủ với mục đích cuối cùng nhằm tìm ra mối liên kết cố định nitơ hiệu quả. Nghiên cứu này đòi hỏi phải xác định hàng chục gen tham gia vào mối tương tác phức tạp giữa các vi khuẩn và cây chủ. Các nhà khoa học đã thực hiện nghiên cứu trên các loại cây trồng ngũ cốc chính và các loại vi khuẩn Rhizobia, Frankia, và vi khuẩn lam bằng cách đưa các vi khuẩn vào rễ cây hoặc toàn bộ cây. Cho đến thời điểm này, họ cũng đã thu được một số kết quả ban đầu trong việc kiểm soát di truyền khả năng của vi khuẩn cố định đạm khu trú bên trong cây trồng.

Nếu phương pháp chuyển gen hoặc hỗ trợ tiến hóa thành công trong việc chuyển đổi khả năng cố định đạm cho các loại cây trồng ngũ cốc chính, thì bước đột phá này sẽ có ý nghĩa đặc biệt trong công nghệ nông nghiệp. Tuy nhiên, công nghệ chuyển gen này phải đối mặt với một số rào cản kỹ thuật không dễ vượt qua như: thứ nhất, sự liên kết của các gen cố định đạm mong muốn với các gen cung cấp sự kháng bệnh và sâu hại có khả năng can thiệp vào sức đề kháng của cây đối với sâu bệnh; thứ hai, việc đưa vào các chuỗi plasmid vi khuẩn cùng với các gen cố định đạm mong muốn có thể gây hại cho cây; và thứ ba, gen có thể truyền từ cây được chuyển sang cây không chuyển gen hoặc các loài thực vật hoang dã. Do vẫn còn tồn tại những khó khăn mà thách thức kỹ thuật mang lại cũng như những hạn chế trong nỗ lực nghiên cứu, việc cố định đạm có thể không được thực hiện đối với các loài cây ngũ cốc cho đến năm 2040.

Công nghệ biến đổi vi sinh vật đất
Kích thích thực vật. Vùng rễ bao gồm mô rễ, bề mặt rễ, và đất nơi rễ vươn ra. Vi khuẩn tồn tại trong môi trường này ở trên rễ cây và bề mặt đất trong màng sinh học nước mỏng. Vùng rễ khác với đất bên ngoài vùng rễ cả về sinh học và hóa học, và những ảnh hưởng của bệnh thực vật và vi sinh vật thúc đẩy tăng trưởng ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng cây trồng. Nghiên cứu về vùng rễ đã chỉ ra rằng biến đổi vi sinh vật đất có thể làm giảm nhu cầu phân bón và thuốc trừ sâu cũng như kích thích tăng trưởng. Kích thích thực vật đề cập đến công nghệ kích thích ảnh hưởng của vùng rễ đối với sức khỏe và sự phát triển của cây. Nông dân thường sử dụng phân bón cho đất để tăng cường sự tăng trưởng và gia tăng năng suất cây trồng, nhưng mối quan hệ giữa thực vật và vi sinh vật vùng rễ vẫn chưa được nhận thức một cách rõ ràng. Việc áp dụng sinh học phân tử cho các vi sinh vật vùng rễ góp phần làm tăng năng suất cây trồng. Chẳng hạn như, các nhà khoa học đã chỉ ra rằng các hormones thực vật của vi khuẩn lam có khả năng cải thiện sự tăng trưởng và năng suất của cây lúa mì.

Đất ức chế bệnh. Các nhà khoa học đã phát hiện ra rằng một số nhóm vi sinh vật đất có khả năng bảo vệ cây trồng cũng như ức chế bệnh ở cây trồng. Bởi có nhiều loài vi sinh vật không thể được nuôi cấy trong môi trường phòng thí nghiệm, nên người ta sử dụng phân tích metagenomic để nghiên cứu chúng trong môi trường tự nhiên, xác định và sử dụng chúng trong phân đất. Việc phát triển hơn nữa trong lĩnh vực này có thể giúp kiểm soát bệnh ở cây trồng tốt hơn cũng như giảm thiểu sử dụng thuốc trừ sâu.

Hấp thu phốt pho. Một yếu tố đầu vào quan trọng cho sự tăng trưởng ở thực vật là phốt pho, và nó cần phải được cung cấp cho cây từ bên ngoài. Khả năng hấp thụ phốt pho trong cây thường không hiệu quả vì phần lớn lượng phốt pho này bị giữ lại trong đất nên cây không thể hấp thu được. Cây chỉ thu được từ 10%-20% lượng phốt pho sử dụng. Ngoài ra, lượng cung cấp phốt pho trên quy mô toàn cầu sử dụng trong phân bón hạn chế với dự báo tổng lượng cạn kiệt trước cuối thế kỷ này. Vi khuẩn và nấm cũng có thể làm tăng khả năng hấp thụ phốt pho, thế nhưng cho đến nay việc phát triển công nghệ này còn rất hạn chế. Nghiên cứu về mối quan hệ giữa cây trồng và sinh vật hấp thu phốt pho cuối cùng có thể dẫn tới sự cải thiện lớn về hiệu quả của khả năng hấp thu phân bón phốt pho. Tuy nhiên, vì cho đến nay, kết quả đạt được chưa khả quan, do đó, sự cải thiện này có thể sẽ chưa thể mang lại thành công trước năm 2040.

Hạt Nano. Zeolite được sử dụng làm chất cải tạo đất để nâng cao hiệu quả của phân bón, cải thiện độ thấm hút và giữ nước cũng như giữ lại chất dinh dưỡng cho cây. Nghiên cứu về zeolite tập trung vào việc thay đổi cấu trúc phân tử zeolite nhằm cải thiện hiệu quả của khoáng chất này. Một số chuyên gia nghiên cứu công nghệ nano như một cách thức để cải thiện hiệu suất của zeolite. Sự sắp xếp từng nguyên tử một trong công nghệ nano cho phép khả năng kiểm soát kích thước, hình dạng, và hướng phản ứng với đất hoặc mô cây. Việc áp dụng công nghệ nano vào đất được đề xuất bao gồm zeolit nanoporous giúp cho phân bón và nước thoát chậm hơn, nanocapsules giúp kiểm soát quá trình thoát thuốc diệt cỏ và thuốc trừ sâu và nanosensor giúp phát hiện dịch hại. Tuy nhiên, mối lo ngại về ảnh hưởng của hạt nano đến sức khỏe của con người đang là một vấn đề rất được quan tâm, một số tổ chức đã có chủ trương không sử dụng chúng trong đất cho đến khi thiết lập được điều kiện an toàn của yếu tố này.

Nguồn http://www.vista.gov.vn

Tìm kiếm...

Thông báo mới

Quy định cơ chế tự chủ của tổ chức KH&CN công lập. Nghị định số 54/2016/NĐ-CP


Quyết định về việc công bố thủ tục hành chính đã chuẩn hóa thuôc phạm vi chức năng quản lý của Sở Khoa học và Công nghệ Hòa Bình


Quy định cơ chế tự chủ của tổ chức KH&CN công lập. Nghị định số 54/2016/NĐ-CP


Quyết định về việc công bố thủ tục hành chính đã chuẩn hóa thuôc phạm vi chức năng quản lý của Sở Khoa học và Công nghệ Hòa Bình


Quy định cơ chế tự chủ của tổ chức KH&CN công lập. Nghị định số 54/2016/NĐ-CP


Quyết định về việc công bố thủ tục hành chính đã chuẩn hóa thuôc phạm vi chức năng quản lý của Sở Khoa học và Công nghệ Hòa Bình


Quy định cơ chế tự chủ của tổ chức KH&CN công lập. Nghị định số 54/2016/NĐ-CP


Quyết định về việc công bố thủ tục hành chính đã chuẩn hóa thuôc phạm vi chức năng quản lý của Sở Khoa học và Công nghệ Hòa Bình


Quy định cơ chế tự chủ của tổ chức KH&CN công lập. Nghị định số 54/2016/NĐ-CP


Quyết định về việc công bố thủ tục hành chính đã chuẩn hóa thuôc phạm vi chức năng quản lý của Sở Khoa học và Công nghệ Hòa Bình


Quy định cơ chế tự chủ của tổ chức KH&CN công lập. Nghị định số 54/2016/NĐ-CP


Quyết định về việc công bố thủ tục hành chính đã chuẩn hóa thuôc phạm vi chức năng quản lý của Sở Khoa học và Công nghệ Hòa Bình


Quy định cơ chế tự chủ của tổ chức KH&CN công lập. Nghị định số 54/2016/NĐ-CP


Quyết định về việc công bố thủ tục hành chính đã chuẩn hóa thuôc phạm vi chức năng quản lý của Sở Khoa học và Công nghệ Hòa Bình


Quy định cơ chế tự chủ của tổ chức KH&CN công lập. Nghị định số 54/2016/NĐ-CP


Quyết định về việc công bố thủ tục hành chính đã chuẩn hóa thuôc phạm vi chức năng quản lý của Sở Khoa học và Công nghệ Hòa Bình



bkhcn
DCS-VN chinh-phu
tap chi KHCN Báo Khoa học & Phát triển
NASATI Varans
khoahoctot  

Thống kê truy cập

0763263
Hôm nay
Hôm qua
Tuần này
Tuần trước
Tháng này
Tháng trước
Tất cả các ngày
1134
1032
3932
753642
29106
28031
763263

Your IP: 54.198.200.157
2017-06-28 19:15