DO LUONG

ung dung

thong ke

DOLUONG

QUYPHAT

Khoi nghiep
 
cam cao phong

Xã Sơn Thủy, huyện Kim Bôi có gần 682 hộ với trên 3.172 nhân khẩu. Trước kia, người dân chủ yếu canh tác lúa nước và trồng một số loại cây ăn quả ít có giá trị nên hiệu quả kinh tế thấp đời sống người dân gặp nhiều khó khăn. Từ khi cải tạo vườn tạp sang trồng nhãn Hương Chi, người dân nơi đây đã xóa đói, giảm nghèo và từng bước thay đổi cuộc sống.

NST kim bôi 01

Vườn nhãn Hương Chi sai trĩu quả. Có cây nhãn cho thu 2 tạ quả tương đương 4 triệu đồng.

Nhờ ưu thế là loài cây ăn quả lâu năm chứa nhiều khoáng chất và chất dinh dưỡng cần thiết cho sức khỏe con người, thích hợp với ăn tươi và chế biến thành nhiều dạng sản phẩm, đặc biệt cây nhãn lại tương đối dễ trồng, dễ chăm sóc, đem lại hiệu quả kinh tế cao, do vậy người nông dân xã Sơn Thủy - Kim Bôi đã mạnh dạn lựa chọn và đưa cây nhãn Hương chi vào trồng tập trung trên địa bàn xã từ năm 1989 với diện tích 2,5ha.

Năm 2002, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Hòa Bình đã tổ chức hội thi bình tuyển giống nhãn chính vụ, nhãn Hương Chi trồng tại địa bàn xã Sơn Thủy, huyện Kim Bôi đã đạt 1 giải nhất, 1 giải nhì, 2 giải 3 và 1 giải khuyến khích. Đây là niềm vui và vinh dự cho người dân vùng trồng nhãn Sơn Thủy, khẳng định chất lượng sản phẩm hàng hóa, từ đó cho thấy điều kiện tự nhiên về đất đai và khí hậu, nguồn nước tại xã Sơn Thủy rất thuận lợi, phù hợp với việc trồng cây nhãn, đây cũng là cơ sở để mở rộng sản xuất, trồng đại trà cây nhãn trên địa bàn xã, và các địa bàn khác cũng có thể nghiên cứu, ứng dụng.

Mặc dù vậy, trong quá trình sản xuất và kinh doanh sản phẩm nhãn Sơn Thủy - Kim Bôi, do gặp nhiều khó khăn trở ngại như: Thị trường và giá cả bấp bênh; vốn đầu tư và kiến thức thâm canh của người sản xuất còn nhiều hạn chế; giao thông chưa thuận lợi; tính lan tỏa trong cộng đồng chưa sâu rộng,… Do vậy diện tích nhãn trong những năm trước 2010 tăng rất chậm. Đến hết năm 2010, diện tích trồng nhãn tập trung của toàn xã Sơn Thủy mới chỉ đạt 38 ha.

Trong 5 năm trở lại đây, những khó khăn về giao thông đi lại, thị trường tiêu thụ dần được tháo gỡ, nhận thức của cán bộ và người dân trồng nhãn có những thay đổi tích cực. Đồng thời, với sự giúp đỡ hiệu quả, cùng với chính sách, đường lối hỗ trợ phát triển nông nghiệp địa phương của chính quyền các cấp và các cơ quan chức năng, diện tích trồng nhãn của xã Sơn Thủy, huyện Kim Bôi ngày càng tăng mạnh.

Đến năm 2015, tổng diện tích trồng nhãn đã cho thu hoạch là 48ha với năng suất bình quân đạt 14 tấn quả/ha (các cây nhãn từ 5 đến 17 năm tuổi), sản lượng đạt trên 588 tấn. Với việc thành lập Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp Sơn Thủy gồm 35 thành viên đã giúp diện tích trồng nhãn được nhân rộng, chủ yếu tập trung trên địa bàn xã Sơn Thủy. HTX hoạt động trong các lĩnh vực như: Nhân và chăm sóc cây giống nông nghiệp, trồng cây ăn quả, khai thác, xử lý và cung cấp nước, hoạt động dịch vụ trồng trọt, thu mua nông lâm sản.... Hợp tác xã cũng đã đặt mục tiêu hỗ trợ việc mở rộng diện tích trồng nhãn cho bà con xã viên, hỗ trợ ứng dụng tiến bộ KH&CN vào sản xuất...

Để xây dựng niềm tin với người tiêu dùng và hình thành thương hiệu, cùng với sự hướng dẫn, hỗ trợ của  Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Hòa Bình, nhãn hiệu tập thể nhãn Sơn Thuỷ đã được Cục Sở hữu trí tuệ, Bộ Khoa học và Công nghệ cấp giấy chứng nhận nhãn hiệu tập thể tại Quyết định số 39194/QĐ-SHTT ngày 27/6/2016. Đồng thời có 31 hộ trong HTX dịch vụ nông nghiệp được cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP. Bước đầu khẳng định thương hiệu nhãn Sơn Thủy và là tiền đề nâng cao uy tín của sản phẩm, mở rộng thị thường tiêu thụ trong và ngoài tỉnh.

Trải qua gần 30 năm gắn bó với vùng đất này, đến nay diện tích trồng nhãn đã được mở rộng lên đến 107,04 ha. Trong đó, có 54 ha đang trong thời kỳ khai thác. Ông Bùi Văn Miển, Chủ nhiệm Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp Sơn Thủy phấn khởi cho biết, với giá bán đầu vụ cắt tại vườn 25.000đồng/kg, giá trị doanh thu của xã đạt hơn 100 tỷ đồng.

NST kim boi 02

Đồng chí Nguyễn Văn Dũng - PCT UBND tỉnh trao Giấy chứng nhận đăng ký NHTT “Sơn Thủy - Kim Bôi” cho sản phẩm nhãn quả.

Nhờ hiệu quả kinh tế cao nên hiện nay có đến 80% số hộ nông dân đã chuyển đổi từ cây lúa, cây màu sang trồng nhãn. Nhà ít thì vài trăm mét vuông, nhà nhiều từ 2 - 3 ha, tập trung nhãn nhiều nhất tại xóm Khoang và xóm Lốc. Trong xã, một số hộ nông dân thu hoạch nhãn sau khi trừ chi phí thu về từ 100 - 300 triệu đồng. Được biết tính đến tháng 8/2017, nông dân xã Sơn Thủy, huyện Kim Bôi thu hoạch nhãn đầu mùa với năng suất 18 tấn/ha (tăng 3 tấn/ha so với năm 2016).

Nhìn chung năng suất Nhãn trồng tại xã Sơn Thủy luôn đạt ở mức cao nhất so với mặt bằng chung các sản phẩm nhãn trồng trong toàn tỉnh. Mức năng suất và sản lượng đạt được không thua kém so với nhiều vùng trồng nhãn truyền thống trong cả nước. Đặc biệt nhiều vườn nhãn ở xã Sơn Thủy được trồng trên 10 năm do người dân chú trọng đầu tư giống, quy trình kỹ thuật thâm canh tốt, các biện pháp quản lý dịch bệnh hiệu quả nên đến kỳ thu hoạch, năng suất đạt trên 20 tấn/ha. Trong 3 năm tới đây, khi diện tích nhãn cho thu hoạch tăng mạnh và đi vào ổn định, dự kiến sản lượng quả sẽ đạt trên 1.000 tấn/năm.

Ngoài hiệu quả kinh tế cao, việc phát triển, mở rộng diện tích trồng nhãn tập trung đã góp phần tích cực trong việc nâng cao nhận thức, dân trí của người dân địa phương thông qua các kênh buôn bán, giao thương, các hoạt động chia sẻ trao đổi kinh nghiệm sản xuất và kinh doanh giữa các hộ nông dân trong và ngoài vùng sản xuất để cùng nhau chia sẻ cách chăm sóc, xử lý ra hoa, đậu quả, xử lý dịch bệnh, thu hoạch và tiêu thụ trên thị trường.

Việc đầu tư trồng nhãn đã đáp ứng mục tiêu xóa đói giảm nghèo, nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân địa phương. Hầu hết bà con nông dân và các cấp chính quyền đều nhận thấy việc xây dựng, bảo hộ và quảng bá, phát triển thương hiệu của vùng đất Sơn Thủy, Kim Bôi gắn với sản phẩm nhãn chất lượng cao, được người tiêu dùng ưa chuộng đã giúp diện tích trồng nhãn phát triển mạnh, đạt năng suất và sản lượng cao, có thể nói cây nhãn thực sự đã trở thành cây trồng chủ lực, thay thế một số cây hoa màu cho năng suất thấp của xã Sơn Thủy trong nhiều năm qua.

Dự kiến xã Sơn Thủy sẽ nâng diện tích trồng nhãn ổn định khoảng 130 - 150 ha, trong đó chủ yếu là giống nhãn Hương Chi, không ngừng nâng cao mẫu mã, chất lượng sản phẩm, đặc biệt là đẩy mạnh sản xuất theo tiêu chuẩn an toàn thực phẩm VietGAP, nỗ lực xây dựng và phát triển thương hiệu nhãn Sơn Thủy.

Hoàng Dương-TTTK


Phát triển sản xuất cam hàng hóa có chất lượng cao là chiến lược của huyện Lạc Thủy nói riêng và tỉnh Hòa Bình nói chung trong xây dựng NTM, tái cơ cấu nông nghiệp và tăng thu nhập cho người nông dân. Do đó, tỉnh và huyện đã có nhiều chính sách hỗ trợ kinh phí và kỹ thuật cho các hộ trồng cam để mở rộng diện tích, đang dần hình thành vùng sản xuất tập trung, sản phẩm được thị trường ưa chuộng, nhiều mô hình cho hiệu quả kinh tế cao bình quân thu nhập trên 400 triệu/ha.

NHTT Cam Lac Thuy 01

Đại diện Cục Sở hữu trí tuệ trao văn bằng bảo hộ nhãn hiệu tập thể cho Hội Nông dân huyện - cơ quan được giao chủ sở hữu nhãn hiệu tập thể Cam Lạc Thủy.

Diện tích trồng cây có múi của huyện Lạc Thủy hiện nay là 996 ha, trong đó diện tích trồng cam 668 ha; có 316 ha đang trong giai đoạn kinh doanh, 352 ha trong gia đoạn kiến thiết cơ bản. Cơ cấu giống chủ yếu là cam Xã Đoài, cam V2 và cam đường canh. Năng suất trung bình đạt 28,5 tấn/ha, giá tại vườn ổn định từ 20- 25.000 đồng/kg. Cam được trồng tập trung tại 5 xã của huyện, bao gồm: Liên Hòa, Hưng Thi, Phú Thành, Thanh Hà, Thanh Nông và Cố Nghĩa.

Cam là một loại cây trồng khó tính, nhạy cảm với điều kiện thời tiết và bệnh dịch nên người trồng cam phải đầu tư cao về vốn và tiến bộ khoa học kỹ thuật trong sản xuất. Trong nhiều năm qua, các giống cam nói trên đều phát triển ổn định, chất lượng quả tốt và có hiệu quả kinh tế cao vượt trội so với các loại cây trồng khác. Vì vậy, diện tích trồng cam không ngừng được mở rộng.

Hiện nay, nhu cầu tiêu dùng trong và ngoài nước đối với các sản phẩm cam có chất lượng đảm bảo ATTP liên tục tăng chính là cơ hội để phát triển thị trường và sản xuất cho các sản phẩm cam của huyện Lạc Thuỷ. Tuy nhiên do cam Lạc Thuỷ chưa có thương hiệu nên gặp phải một số khó khăn trong tiêu thụ như các sản phẩm cam của huyện Lạc Thuỷ chưa có dấu hiệu nhận biết và phân biệt trên thị trường. Điều này hạn chế khả năng mở rộng thị trường do xu hướng tiêu dùng trong và ngoài nước hướng tới các sản phẩm có nguồn gốc xuất xứ, minh bạch về tiêu chuẩn chất lượng và đảm bảo ATTP. Giá bán hiện nay tương đối ổn định, cho thu nhập cao hơn các cây trồng khác nhưng vẫn chưa đạt được những giá trị thực so với các sản phẩm cùng loại của các vùng sản xuất khác trong tỉnh. Vì vậy hiệu quả kinh tế chưa phát huy được hiệu quả tối đa. Bên cạnh đó, quy mô sản xuất nhỏ, kỹ thuật không đồng đều giữa các hộ dẫn đến chất lượng cam có sự khác biệt trong vùng sản xuất. Việc đầu tư marketing cho sản phẩm còn rất hạn chế nên các kết quả của xúc tiến thương mại chưa cao. Do đó việc xây dựng nhãn hiệu tập thể cho các sản phẩm cam Lạc Thuỷ với các dấu hiệu nhận diện, hệ thống truy xuất nguồn gốc xuất xứ, tiêu chuẩn chất lượng và ATTP nhằm thích ứng với yêu cầu thị trường ngày càng cao là cần thiết nhằm phát triển cây cam một cách bền vững và nâng cao thu nhập cho người sản xuất.

Ngày 12/11/2017, huyện Lạc Thủy đã tổ chức lễ công bố đón văn bằng bảo hộ nhãn hiệu tập thể "Cam Lạc Thủy” cho các sản phẩm cam của huyện, ông Nguyễn Văn Hải, Phó Chủ tịch UBND huyện Lạc Thuỷ khẳng định: “Sự kiện cam Lạc Thuỷ được bảo hộ nhãn hiệu tập thể là thành công lớn của huyện. Để bảo vệ và phát triển thương hiệu, chúng tôi sẽ chỉ đạo ban quản lý nhãn hiệu chứng nhận cam Lạc Thuỷ cùng các phòng, ban liên quan tăng cường quảng bá, xúc tiến kêu gọi đầu tư, mở rộng vùng sản xuất. Tăng cường công tác khuyến nông, hướng dẫn nông dân thực hành sản xuất theo hướng VietGAP, ứng dụng mạnh KHKT trong sản xuất để sản phẩm cam Lạc Thuỷ vươn xa trên thị trường”.

NHTT Cam Lac Thuy 02

Người dân thôn Đồng Bầu, xã Lạc Long thu hoạch cam

Cùng với sự công nhận hết sức ý nghĩa này, nhiều thách thức đang đặt ra đối với sản phẩm mang NHTT “Cam Lạc Thủy”. Trong đó, thách thức quan trọng hàng đầu là duy trì được chất lượng đặc thù của sản phẩm - vốn được xem là yếu tố cốt lõi mang lại ưu thế cạnh tranh và quyết định đến sự sống còn của sản phẩm trên thị trường. Nguy cơ suy giảm chất lượng sản phẩm đối với cam Lạc Thủy có thể xảy ra theo hai chiều hướng. Một là: NHTT làm tăng hiệu quả kinh tế, người sản xuất vì lý do lợi nhuận có thể sử dụng tem nhãn NHTT cho cả những sản phẩm không đủ tiêu chuẩn chất lượng hoặc sử dụng các biện pháp thâm canh tăng năng suất làm thay đổi chất lượng đặc thù của sản phẩm. Điều này sẽ làm mất uy tín của sản phẩm trên thị trường và giảm lượng người tiêu dùng. Hai là: Chất lượng đặc thù của cam Lạc Thủy chỉ duy trì được khi trồng tại vùng bảo hộ, nếu mở rộng sản xuất ngoài khu vực địa lý được xác định, tính đồng đều về chất lượng đặc thù sẽ không duy trì được. Chính vì vậy, để gìn giữ và khai thác tốt giá trị thương hiệu của Cam Lạc Thủy, trong thời gian tới, UBND huyện Lạc Thủy sẽ triển khai đồng bộ nhiều giải pháp, trong đó chú trọng tăng cường quản lý chất lượng giống để duy trì chất lượng đặc thù của sản phẩm - giá trị cốt lõi tạo ra sức mạnh của NHTT “Cam Lạc Thủy".

Đinh Thắng-Báo HB

Nhắc đến huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình là người ta biết đến vùng sản xuất nông nghiệp với những sản phẩm nông nghiệp nổi tiếng không chỉ tỏi tía, quýt Nam Sơn mà còn phải kể đến cây su su lấy ngọn, đã giúp bà con nơi đây từng bước thay đổi cuộc sống, vươn lên thoát nghèo.

Cây su su vốn là một trong những loại cây trồng truyền thống của xã Quyết Chiến, trước đây các hộ dân trong xã trồng su su để lấy quả, giá trị kinh tế vừa thấp, sản xuất lại manh mún. Với các lợi thế về điều kiện tự nhiên (khí hậu mát mẻ, đất đai màu mỡ) và con người (lao động địa phương, lao động tại chỗ) tại huyện Tân Lạc, cây su su cho ngọn có mẫu mã đẹp ( ngọn su su mơn mởn, dài, mập mạp...), chất lượng vượt trội so với các sản phẩm trồng ở vùng khác, đặc biệt không cần dùng đến các loại thuốc bảo vệ thực vật hay chất kích thích sinh trưởng. Khai thác lợi thế đó Trung tâm Ứng dụng tiến bộ Khoa học và Công nghệ (Trung tâm ƯDTB KH&CN), trực thuộc Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Hòa Bình đã thực hiện nghiên cứu, triển khai ứng dụng và hỗ trợ thực hiện trồng cây su su lấy ngọn tại huyện Tân Lạc từ năm 2006 - 2007.

Rau Su su TL 01

Trồng su su đã mang lại hiệu quả kinh tế đáng kể, góp phần cải thiện đời sống nông dân

Trong quá trình đưa cây Su Su vào trồng tại huyện, Trung tâm ƯDTB KH&CN đã hỗ trợ bà con nông dân về giống cây trồng, phân bón, hướng dẫn kỹ thuật trồng, chăm sóc và thu hoạch sản phẩm. Bên cạnh đó, Trung tâm ƯDTB KH&CN còn tổ chức cho bà con nông dân đi học tập kinh nghiệm trồng và tiêu thụ Su Su tại huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc, là một trong những địa bàn mạnh trong sản xuất, tiêu thụ Su su, và cũng đã bảo hộ thành công Nhãn hiệu tập thể Su su Tam Đảo.

Mô hình trồng Su Su bắt đầu được triển khai thực hiện trồng tại xã Quyết Chiến, với diện tích 0,5ha trồng thử nghiệm, sau 3 tháng cây sinh trưởng và phát triển mạnh, cho thu hoạch ngọn đạt năng suất cao lại tiêu thụ nhanh nên bà con bắt đầu trồng thử loại cây này và nhân rộng tại tất cả 5 xã vùng cao của huyện Tân Lạc, tính đến năm 2014 tổng diện tích trồng su su khoảng 46ha, trong đó: Chương trình VIETGAP 9,1ha; rau an toàn 12,3ha; trồng tự nhiên 24,6ha. Những xã như Quyết Chiến, Nam Sơn, Bắc Sơn là những xã người dân tuân thủ thực hiện theo đúng kỹ thuật trồng, chăm sóc, canh tác sản phẩm đã được hướng dẫn, do vậy, đến kỳ thu hoạch, sản phẩm đạt năng suất và sản lượng cao, chất lượng tốt, được người tiêu dùng ưa chuộng, mang lại hiệu quả kinh tế cao. Từ đó, bà con nông dân đã khai thác, tận dụng cả những diện tích đất đá vốn trồng các loại cây khác không hiệu quả để làm giàn trồng su su, nhờ vậy mà diện tích trồng su su trên địa bàn huyện Tân Lạc ngày càng được mở rộng.

Theo đánh giá chung của bà con nông dân thì so với trồng ngô và một số giống cây trồng khác, trồng rau su su giá trị cao hơn 4 - 5 lần, trong khi mùa vụ thu hoạch kéo dài khoảng từ tháng 4 - tháng 11. Nhiều hộ trồng su su đã thoát nghèo, vươn lên khá giả, có thu nhập ổn định nhờ giá trị kinh tế từ cây trồng này mang lại.

Chị Bùi Thị Quyết trồng su su lâu năm ở xóm Biệng, xã Quyết Chiến cho biết: “Trồng cây su su lấy ngọn vốn đầu tư không nhiều, chỉ đầu tư những cây tre, cây nứa làm giàn là có thể tận dụng được đến 6 - 7 năm, còn về giống năm đầu bà con phải mua và những năm sau các hộ tự nhân được giống cho các vụ sau. Hiện gia đình tôi trồng khoảng 5.000 m2 su su lấy ngọn, trung bình 3 - 4 ngày thu hái ngọn một lần, mỗi ngày khoảng được hơn 100 kg, một tháng thu 1 - 1,3 tấn ngọn...”.

Để bà con trồng rau tập trung và theo hướng sản xuất hàng hóa, tạo thương hiệu cho sản phẩm rau của địa phương, hợp tác xã rau su su Quyết Chiến được thành lập năm 2013. Nhờ canh tác theo mô hình sạch, tháng 8 và tháng 11 cùng năm, sản phẩm ngọn su su của hợp tác xã đã được chứng nhận rau an toàn và rau đạt tiêu chuẩn VietGap. Từ năm 2015 đến tháng 6/2016, Sở KH&CN Hòa Bình đã hướng dẫn, hỗ trợ Hợp tác xã dịch vụ tổng hợp Quyết Thắng, huyện Tân Lạc xây dựng, tạo lập và đăng ký bảo hộ thành công NHTT “Su Su Tân Lạc” cho sản phẩm nông sản đặc sản su su trồng trên địa bàn huyện.Theo đó có 55 hộ là thành viên HTX có diện tích trồng su su được sử dụng nhãn hiệu tập thể này.

Hoạt động tạo lập, đăng ký bảo hộ Nhãn hiệu tập thể “Su su Tân Lạc” đã phản ánh sự đoàn kết, nỗ lực rất lớn của chính quyền và nhân dân xã Quyết Chiến trong việc xây dựng, bảo hộ và quảng bá, phát triển thương hiệu của vùng đất Quyết Chiến gắn với sản phẩm chất lượng cao, được người tiêu dùng ưa chuộng.

Nhãn hiệu tập thể cho các sản phẩm nông sản đặc sản truyền thống nói chung và NHTT “Su Su Tân Lạc” cho sản phẩm rau quả Su Su nói riêng được bảo hộ quyền SHTT giúp hạn chế những rủi ro về biến động giá bán khi thu hoạch sản phẩm, tăng khả năng mở rộng thị trường tiêu thụ, xây dựng và phát triển thương hiệu hàng hóa cho nông sản, góp phần tăng hiệu quả sản xuất và thu nhập cho người dân, tác động để quy hoạch lại kinh tế - xã hội nông thôn tại nơi có các sản phẩm nông sản đã được đăng ký bảo hộ sở hữu trí tuệ.

Rau Su su TL 02

Rau su su xanh mướt mà không cần tới thuốc bảo vệ thực vật hay thuốc kích thích

Qua đánh giá sau 10 năm phát triển, sản phẩm rau su su đã phát huy được thế mạnh của địa phương. Tính đến thời điểm này tổng diện tích trồng rau su su của huyện Tân Lạc là 52ha, trong đó tập trung chủ yếu ở xã Quyết Chiến với diện tích 48ha, xã Lũng Vân 4ha. Năng suất bình quân 63 tấn/ha/năm, sản lượng trên 3.200 tấn/năm. Giá bán bình quân 4.000 đồng/kg, thu nhập 252 triệu đồng/ha/năm. Hiện hàng ngày rau su su cho thu hoạch trên 15 tấn rau, trong đó chủ yếu được tiêu thụ tại thị trường trong và ngoài tỉnh.

Tuy nhiên, do chi phí vận chuyển lớn, lại phải cạnh tranh với sản phẩm cùng loại từ các địa phương khác nên giá sản phẩm chưa cao. Nguồn nước tưới chưa chủ động được. Hợp tác xã hiện chưa có nhà sơ chế; việc thu hoạch, sơ chế thực hiện tại nhà ở của các hộ dân dẫn đến sản phẩm chưa đồng nhất về mẫu mã,... Nhãn hiệu hàng hóa tập thể “Su su Tân Lạc” đã được đăng ký chứng nhận, nhưng công tác quảng bá sản phẩm còn hạn chế, sức cạnh tranh trên thị trường chưa cao.

Định hướng trong thời gian tới, huyện Tân Lạc sẽ tích cực chuyển giao khoa học kỹ thuật, sản xuất theo hướng nông nghiệp hữu cơ, đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm. Kêu gọi doanh nghiệp đầu tư liên kết sản xuất, chế biến, quảng bá và tiêu thụ sản phẩm rau. Hỗ trợ các Hợp tác xã nâng cao năng lực sản xuất và kinh doanh. Quy hoạch lại vùng sản xuất rau su su khoảng 100 ha tại xã Quyết Chiến, Lũng Vân, Nam Sơn và Ngổ Luông. Đồng thời mở rộng diện tích trồng rau ôn đới gắn với phát triển rau an toàn theo tiêu chuẩn VietGap.

Mai Anh-TTTK

 

 

Ngày nay, hoạt động bảo hộ và thực thi Quyền Sở hữu trí tuệ đã khẳng định vai trò, tầm quan trọng ở nhiều phương diện không chỉ về kinh tế mà còn về cả giá trị văn hóa, xã hội trên phạm vi toàn thế giới. Là một tỉnh miền núi thuộc Đông Bắc Bộ Việt Nam, tuy điều kiện phát triển kinh tế - xã hội còn gặp nhiều khó khăn, thách thức, song, trong những năm qua, chính quyền và nhân dân tỉnh Hòa Bình đã không ngừng nâng cao nhận thức về vai trò, tầm quan trọng của hoạt động Sở hữu trí tuệ nói chung và giá trị của việc đăng ký bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ cho các sản phẩm nông sản, đặc sản, truyền thống của địa phương gắn với tên địa danh nói riêng.

Có thể nói, từ những năm 1960 người dân huyện Tân Lạc đã mạnh dạn lựa chọn, đưa cây Bưởi đỏ vào trồng trên địa bàn huyện với mục tiêu xóa đói giảm nghèo, nâng cao chất lượng cuộc sống. Với lợi thế về khí hậu, thổ nhưỡng, địa hình, nguồn nước và điều kiện tự nhiên cùng với việc chọn lựa thành công giống cây trồng phù hợp vào sản xuất mà giống Bưởi đỏ trồng ở nơi đây lớn nhanh, lá xanh óng, quả to, cùi mỏng, tép tươi mọng nước, ngọt dịu. Giống cây bưởi đỏ Tân Lạc hơn nửa thế kỷ trước đang tiếp tục được nuôi dưỡng và phát triển bằng sự chuyên cần của người nông dân huyện Tân Lạc.

Buoi do tan lac 131

Cây giống bưởi đỏ Tân Lạc sinh trưởng phát triển khỏe mạnh, ít bị sâu bệnh hại. Khối lượng trung bình từ 800 - 1000g

Nhằm phát triển thương hiệu cho sản phẩm Bưởi đỏ Tân Lạc chất lượng cao, được người tiêu dùng ưa chuộng, tin dùng cùng với chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước, sự quan tâm chỉ đạo sát sao của UBND tỉnh, UBND huyện, Sở KH&CN và các Sở ngành liên quan khác đã nghiên cứu, xây dựng và triển khai hoạt động hỗ trợ đăng ký bảo hộ quyền Sở hữu trí tuệ Nhãn hiệu tập thể cho sản phẩm bưởi đỏ gắn với địa danh huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình. Hoạt động này đã nhận được sự quan tâm, tin tưởng và ủng hộ từ các hộ nông dân trồng bưởi đỏ trên địa bàn toàn huyện.

Xét về điều kiện bảo hộ sản phẩm dưới hình thức nhãn hiệu tập thể thì sản phẩm phải có thị trường, có tiềm năng phát triển, có nhiều nhà sản xuất, kinh doanh cùng trong một khu vực địa lý với chất lượng, mẫu mã khác nhau và chưa được kiểm soát; danh tiếng, uy tín của sản phẩm có nguy cơ sụt giảm. Mặt khác, các nhà sản xuất, kinh doanh sản phẩm phải nhận thức được sự cần thiết trong việc giữ gìn uy tín chất lượng sản phẩm của địa phương mình cũng như tự nguyện tham gia cùng xây dựng nhãn hiệu chung cho loại sản phẩm đảm bảo các đặc tính nhất định và đóng góp kinh phí để cùng nhau xây dựng và phát triển nhãn hiệu chung.

Trên cơ sở đó, từ năm 2016 đến nay, Sở KH&CN đã đẩy mạnh điều tra, khảo sát, đánh giá tiềm năng phát triển của sản phẩm bưởi đỏ trồng tại huyện Tân Lạc; nghiên cứu hiện trạng và phân bố của vùng sản xuất sản phẩm bưởi đỏ; xây dựng tiêu chí nhận biết chất lượng đặc thù cho sản phẩm. Qua nghiên cứu, phân tích cho thấy, sản phẩm bưởi đỏ trồng trên mảnh đất Tân Lạc có hàm lượng Vitamin C đạt 63,6mg/100g, hàm lượng Brix đạt 9,2%. Các chỉ số đó đã tạo nên sản phẩm bưởi đỏ Tân Lạc có chất lượng vượt trội hơn so với cùng giống bưởi được trồng ở vùng khác. Bên cạnh đó, diện tích trồng bưởi áp dụng tiêu chuẩn VietGap hiện nay ở Tân Lạc vào khoảng hơn 40ha. Dự kiến trong tương lai, các hộ trồng bưởi Tân Lạc sẽ tiếp tục áp dụng tiêu chuẩn VietGap trong canh tác bưởi đỏ để tiếp tục mở rộng diện tích trồng bưởi đạt chất lượng theo tiêu chuẩn VietGap.

buoi do tan lac 131 02

Sự thành công của bưởi đỏ Tân Lạc đã góp phần không nhỏ vào việc tạo dựng nên thương hiệu của nghành nông sản tỉnh Hòa Bình với những sản vật phong phú.

Sở KH&CN đã tiến hành xây dựng cơ sở khoa học và thực tiễn cho việc lập hồ sơ đăng ký bảo hộ quyền Sở hữu trí tuệ cho sản phẩm này. Cùng với đó hỗ trợ Hội nông dân huyện Tân Lạc hoàn tất các thủ tục nộp hồ sơ đăng ký bảo hộ quyền Sở hữu trí tuệ Nhãn hiệu tập thể “Bưởi đỏ Tân Lạc” tại Cục Sở hữu trí tuệ vào ngày 03/4/2017. Sau quá trình thẩm định hồ sơ, ngày 27/10/2017, Cục Sở hữu trí tuệ Việt Nam đã ban hành Quyết định số 75136/QĐ-SHTT về việc cấp Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu số 290081 bảo hộ quyền Sở hữu trí tuệ Nhãn hiệu tập thể “Bưởi đỏ Tân Lạc” ở nhóm sản phẩm, dịch vụ 31 và 35 cho chủ sở hữu Hội nông dân huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình.

Nhãn hiệu tập thể “Bưởi đỏ Tân Lạc” đăng ký thành công đã góp phần không nhỏ vào việc tạo dựng nên thương hiệu của ngành nông sản tỉnh Hòa Bình. Thể hiện tinh thần đoàn kết, nỗ lực của chính quyền và nhân dân huyện Tân Lạc. Đặc biệt với sự hỗ trợ về chuyên môn, Sở Khoa học và Công nghệ đã một lần nữa khẳng định được vai trò, trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước cấp tỉnh về hoạt động Sở hữu trí tuệ, đẩy mạnh công tác hỗ trợ các Hội, hiệp hội, Hợp tác xã, tổ chức tập thể xây dựng, đăng ký, quản lý, khai thác và phát triển hiệu quả Nhãn hiệu tập thể, các tài sản trí tuệ là sản phẩm nông sản, đặc sản và truyền thống của tỉnh Hòa Bình. Đây là niềm tự hào của cộng đồng các dân tộc trong tỉnh, góp phần xây dựng, phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội của địa phương, cải thiện đời sống cho người lao động, tăng thêm cơ hội quảng bá, phát huy uy tín và gìn giữ tinh hoa dân tộc.

Minh Phương-QLCN

Ngày 24/11, Viện nghiên cứu rau quả đã tiến hành Hội nghị đầu bờ giới thiệu mô hình thâm canh Quýt Nam Sơn, thuộc Đề tài “Bảo tồn nguồn gen Quýt Nam Sơn - Hòa Bình” tại UBND xã Nam Sơn, huyện Tân Lạc. Tham dự có đồng chí Bùi Văn Chủm - Phó giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ, phòng Quản lý Khoa học thuộc Sở KH&CN, Phòng Kinh tế Hạ tầng huyện Tân Lạc.

HTDB quyt nam son

Các đại biểu tham dự Hội nghị đầu bờ giới thiệu mô hình tham canh Quýt Nam Sơn

Nhiệm vụ bảo tồn nguồn gen thuộc Đề án khung các nhiệm vụ bảo tồn nguồn gen tỉnh Hòa Bình thực hiện trong giai đoạn 2014 - 2020 theo Quyết định số 2750/QĐ-UBND ngày 12 tháng 11 năm 2013 của Ủy ban Nhân dân tỉnh Hòa Bình.

Nhằm phát triển bền vững nguồn gen bản địa Quýt Nam Sơn phục vụ phát triển kinh tế xã hội và nâng cao thu nhập cho người dân tại huyện Tân Lạc, Đề tài đã được thực hiện từ tháng 3/2015.

Tại hội nghị, đại biểu tham dự đã được tham quan, thảo luận và chia sẻ kinh nhiệm với những nông dân trực tiếp làm mô hình. Qua tham quan các đại biểu đều đánh giá giống Quýt tại xã thích hợp với điều kiện khí hậu địa phương, đặc biệt các địa phương khác trên cả nước cũng như các nước khác trên thế giới không có giống này do vậy các chỉ tiêu về chất lượng của sản phẩm của giống chỉ có thể so sánh với các giống tương tự thể hiện ở mức độ đồng đều của các chỉ tiêu hình thái, có tiềm năng năng suất cao hơn giống khi chưa được bảo tồn. Cây giống bảo tồn và sản xuất từ nhiệm vụ sẽ có chất lượng cao đảm bảo cho công tác nhân giống tiếp theo và có thể đáp ứng trực tiếp cho sản xuất. Giống bảo tồn giữ nguyên được chất lượng quý hiếm vốn có của nguồn gen.

HTDB quyt nam son 2

Ông Bùi Văn Chủm - PGĐ Sở Khoa học và Công nghệ trao đổi với người dân trồng quýt tại địa phương

Mai Anh-TTTK

Tìm kiếm...

Thông báo mới

Quy định cơ chế tự chủ của tổ chức KH&CN công lập. Nghị định số 54/2016/NĐ-CP


Quyết định về việc công bố thủ tục hành chính đã chuẩn hóa thuôc phạm vi chức năng quản lý của Sở Khoa học và Công nghệ Hòa Bình


Quy định cơ chế tự chủ của tổ chức KH&CN công lập. Nghị định số 54/2016/NĐ-CP


Quyết định về việc công bố thủ tục hành chính đã chuẩn hóa thuôc phạm vi chức năng quản lý của Sở Khoa học và Công nghệ Hòa Bình


Quy định cơ chế tự chủ của tổ chức KH&CN công lập. Nghị định số 54/2016/NĐ-CP


Quyết định về việc công bố thủ tục hành chính đã chuẩn hóa thuôc phạm vi chức năng quản lý của Sở Khoa học và Công nghệ Hòa Bình


Quy định cơ chế tự chủ của tổ chức KH&CN công lập. Nghị định số 54/2016/NĐ-CP


Quyết định về việc công bố thủ tục hành chính đã chuẩn hóa thuôc phạm vi chức năng quản lý của Sở Khoa học và Công nghệ Hòa Bình


Quy định cơ chế tự chủ của tổ chức KH&CN công lập. Nghị định số 54/2016/NĐ-CP


Quyết định về việc công bố thủ tục hành chính đã chuẩn hóa thuôc phạm vi chức năng quản lý của Sở Khoa học và Công nghệ Hòa Bình


Quy định cơ chế tự chủ của tổ chức KH&CN công lập. Nghị định số 54/2016/NĐ-CP


Quyết định về việc công bố thủ tục hành chính đã chuẩn hóa thuôc phạm vi chức năng quản lý của Sở Khoa học và Công nghệ Hòa Bình


Quy định cơ chế tự chủ của tổ chức KH&CN công lập. Nghị định số 54/2016/NĐ-CP


Quyết định về việc công bố thủ tục hành chính đã chuẩn hóa thuôc phạm vi chức năng quản lý của Sở Khoa học và Công nghệ Hòa Bình


Quy định cơ chế tự chủ của tổ chức KH&CN công lập. Nghị định số 54/2016/NĐ-CP


Quyết định về việc công bố thủ tục hành chính đã chuẩn hóa thuôc phạm vi chức năng quản lý của Sở Khoa học và Công nghệ Hòa Bình



bkhcn
DCS-VN chinh-phu
tap chi KHCN Báo Khoa học & Phát triển
NASATI Varans
khoahoctot  

Thống kê truy cập

0919072
Hôm nay
Hôm qua
Tuần này
Tuần trước
Tháng này
Tháng trước
Tất cả các ngày
744
587
4059
908820
12620
23496
919072

Your IP: 192.168.51.1
2017-12-14 20:45