DO LUONG

ung dung

thong ke

DOLUONG

QUYPHAT

cam cao phong

Việt Nam đã đạt mục tiêu chung của chiến lược năng lượng tái tạo là giảm 25% phát thải khí nhà kính của Việt Nam và phần lớn các hộ gia đình sẽ được tiếp cận với các dịch vụ năng lượng đáng tin cậy, bền vững và hiện đại. Việt Nam là quốc gia có tiềm năng phát triển những nguồn năng lượng này khi Việt Nam có 3000 km bờ biển rất tốt cho việc phát triển năng lượng gió và phát triển năng lượng mặt trời. Đây những ý kiến tại Hội thảo giới thiệu Chiến lược phát triển năng lượng tái tạo tại Việt Nam.

Tiêu chuẩn ô nhiễm Việt Nam còn dễ dãi

Tại cuộc hội thảo này, các chuyên gia cho rằng, hiện Việt Nam đang đối mặt với nhiều vấn đề liên quan đến ô nhiễm không khí và môi trường. Một trong những vấn đề gây ô nhiễm đó là caai chuyện về khai thác và vận chuyển than. Điều này có các tác động tiêu cực đến môi trường, sức khỏe, các sinh kế của người dân xung quanh.

Theo các chuyên gia, các chất thải ra từ nhà máy nhiệt điện sẽ sản sinh ra chủ yêu là tro. Trong khi đó than của Việt Nam có hàm lượng tro khá lớn- phổ biến khoảng độ 25% và có loại còn có tỷ lệ tro cao hơn nữa. Các loại bụi tro từ các nhà máy thường ảnh hưởng rất lớn đến không khí xung quanh. Thông thường, các nhà máy phải xây bao, tưới nước hay người ta biến xỉ thành ra những vật liệu xây dựng…Đồng thời, ông khói của nhà máy phải có thiết bị để giữ lại khí SO2, quanh ống khói cũng có những thiết bị để để giữ lại bụi từ đó giảm đi ô nhiễm.
Tất cả những tro và bụi xỉ này sau khi thu gom lại phải mang đến một khu để chứa, chôn và một số tái chế lại tức là dùng để làm xi măng, phân bón, keo sơn phết. Những thứ không tận dụng được phải chôn hay giữ trong một khu vực có bao quanh và được cho nước vào để giữ ẩm, không bị khô để gió bạt đi.

Tuy nhiên, trên thực tế, nhiều hộ dân sinh sống xung quanh các nhà máy đang có tình trạng trong nhà luôn bị bụi bặm bám đầy nhà. Theo chuyên gia Đinh Chính Lợi, chu kỳ sản xuất than gầy ở Việt Nam đã tác động vào môi trường Việt Nam không nhỏ khi gây ô nhiễm bụi, ô nhiễm tiếng ồn và nước thải mỏ nhiễm bẩn axit, Điển hình vùng trồng lúa ở Cẩm Phả, đã đo đạc được nồng độ các kim loại độc hại rất cao từ khai thác than. Từ đó, người ta đã phát hiện ra mức nhiễm bẩn cao trong cây lúa và thóc tại nơi đây.

Các tiêu chuẩn ô nhiễm mà nhà máy điện đốt than ở Việt Nam thường dễ dãi hơn so với các nước khác. Ví dụ như ở Ấn Độ mức thải khí Nox, So2 chỉ đạt ngưỡng 100mg/nm3 (na- nô mét khối) nhưng ở Việt Nam gấp 4 lần. “Điều đáng nói, sự ô nhiễm này đã làm tăng sự chết yểu của người dân sinh sống xung quanh từ con số 4.263 người/năm (năm 2011) lên 25.402 người/ năm.” Ông Koos Neefjes, thành viên nhóm cố vấn chính sách UNDP Việt Nam cho biết.

Quan tâm đến tương lai phát triển năng lượng tái tạo

Chính phủ Việt Nam bắt đầu quan tâm đến tương lai trở nên bền vững, xanh và sạch hơn. Cụ thể, đã đưa ra Chiến lược Tăng trưởng xanh của Việt Nam năm 2012. Tại chiến lược này đã dần loại bỏ khoản trợ giá nhiên liệu hóa thạch và tăng cường phát triển năng lượng tái tạo.

Năng lượng xanh là những năng lượng được hình thành từ các nguyên liệu sạch không sử dụng hóa thạch như năng lượng từ gió, năng lượng mặt trời…Đây được coi là những nguồn năng lượng tái tạo, vì đây năng lượng từ những nguồn liên tục có sẵn trong thiên nhiên.

Năng lượng mặt trời là năng lượng thu được từ mặt trời được khai thác và chuyển đổi sang năng lượng nhiệt hoặc điện. Điều này có nghĩa là chúng ta có thể sử dụng những nguồn năng lượng sẵn có trong tự nhiên và biến đổi chúng thông qua các thiết bị chuyên dụng thành năng lương điện, nhiệt để thay thế dần những nguồn năng lượng hóa thạch truyền thống.

Nặng lượng mặt trời được các chuyên gia đánh giá là có nhiều lợi ích như đây là năng lượng tái tạo, có thể sản xuất dài lâu nhờ nguồn năng lượng mặt trời được kéo dài sử dụng nhiều năm. Nguồn năng lượng này không khan hiếm khi được khai thác trực tiếp từ năng lượng mặt trời, điều này có nghĩa nó không khan hiếm như nguồn nguyên liệu khác.

Đồng thời, các thiết bị chuyển đổi năng lượng mặt trời thành các nặng lương nhiệt, năng lượng điện có thể lắp đặt một cách dễ dàng, có thể đặt được trên nóc nhà hoặc biến nó thành những tấm kính của ngôi nhà và nó sẽ không chiếm không gian cần thiết. Năng lượng mặt trời có thể được sản xuất tại bất kỳ phần nào của thế giới, ở bất cứ nơi nhiều ánh sáng mặt trời có sẵn. Một trong những lợi thế quan trọng nhất về môi trường của năng lượng mặt trời là nó là một nguồn gây ô nhiễm phi năng lượng như không có khí thải carbon dioxide hoặc các khí khác trong sản xuất điện.

Các chuyên gia tại hội thảo cũng đánh giá việc sử dụng năng lượng mặt trởi là rất có lợi, khi nó là miễn phí. Điều này sẽ tiết kiệm nhiều chi phí sử dụng nguồn nhiên liệu khi không phải mua than, khí thiên nhiên và dầu mỏ và nhiên liệu hóa thạch mà đang có xu hướng tăng liên tục.

2 thumb

Ông Ingmarr Stelter Ảnh: Thanh Bình

Theo ông Ingmarr Stelter, Giám đốc Chương trình Hỗ trợ năng lượng Bộ Công thương đã đánh giá Việt Nam là một trong những quốc gia có tiềm năng phát triển năng lượng gió. Việt Nam là quốc gia nằm trong khu vực cận nhiệt đới gió mùa với bờ biển dài, Việt Nam có một thuận lợi cơ bản để phát triển năng lượng gió. So sánh tốc độ gió trung bình trong vùng Biển Đông Việt Nam và các vùng biển lân cận cho thấy gió tại Biển Đông khá mạnh và thay đổi nhiều theo mùa.

Với 3000 km bờ biển, vận tốc gió có trên 6m/2 được tính toán gần 2.700 km2. Như vậy theo tính toán thì tiềm năng sản xuất điện từ năng lượng gió có thể đạt được 24GW. Ở Việt Nam, các khu vực có thể phát triển năng lượng gió không trải đều trên toàn bộ lãnh thổ. Với ảnh hưởng của gió mùa thì chế độ gió cũng khác nhau. Vì vậy cần phải tính toán khu vực nào có thể sản xuất điện nhờ công nghệ năng lượng gió cho hiệu quả.

Điều quan trọng khi sử dụng hai nguồn năng lượng mới gồm gió và năng lượng mặt trời sẽ không phải phụ thuộc vào nguồn năng lượng từ hóa thạch ngày càng cạn kiệt, đồng thời sẽ giảm khí thải gây ô nhiễm cho môi trường. Và hai nguồn năng lượng này đều được miễn phí. Vì vậy, Nhà nước cần phải xây dựng chương trình quốc gia về năng lượng tái tạo, có kế hoạch xây dựng và phát triển công nghệ năng lượng tái tạo. Không những vậy phải hình thành và phát triển thị trường công nghệ năng lượng tái tạo để các doanh nghiệp có thể tiếp cận công nghệ tiên tiến nhất để đầu tư có hiệu quả. Điều quan trọng nhất là phải có chính sách ưu đãi, hỗ trợ khác: thuế, đất đai,môi trường…cho các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực này.

 “Việt Nam đã đạt mục tiêu chung của chiến lược năng lượng tái tạo là giảm 25% phát thải khí nhà kính của Việt Nam và phần lớn các hộ gia đình sẽ được tiếp cận với các dịch vụ năng lượng đáng tin cậy, bền vững và hiện đại.” ông Phạm Trọng Thực, Vụ trưởng Vụ Năng lượng mới và tái tạo - Tổng Cục Năng lượng, Bộ Công thương nhấn mạnh khi thể hiện quyết tâm việc sử dụng năng lượng tái tạo tại Việt Nam.

nguồn http://www.daibieunhandan.vn/

Tìm kiếm...

Thông báo mới

Quy định cơ chế tự chủ của tổ chức KH&CN công lập. Nghị định số 54/2016/NĐ-CP


Quyết định về việc công bố thủ tục hành chính đã chuẩn hóa thuôc phạm vi chức năng quản lý của Sở Khoa học và Công nghệ Hòa Bình


Quy định cơ chế tự chủ của tổ chức KH&CN công lập. Nghị định số 54/2016/NĐ-CP


Quyết định về việc công bố thủ tục hành chính đã chuẩn hóa thuôc phạm vi chức năng quản lý của Sở Khoa học và Công nghệ Hòa Bình


Quy định cơ chế tự chủ của tổ chức KH&CN công lập. Nghị định số 54/2016/NĐ-CP


Quyết định về việc công bố thủ tục hành chính đã chuẩn hóa thuôc phạm vi chức năng quản lý của Sở Khoa học và Công nghệ Hòa Bình


Quy định cơ chế tự chủ của tổ chức KH&CN công lập. Nghị định số 54/2016/NĐ-CP


Quyết định về việc công bố thủ tục hành chính đã chuẩn hóa thuôc phạm vi chức năng quản lý của Sở Khoa học và Công nghệ Hòa Bình


Quy định cơ chế tự chủ của tổ chức KH&CN công lập. Nghị định số 54/2016/NĐ-CP


Quyết định về việc công bố thủ tục hành chính đã chuẩn hóa thuôc phạm vi chức năng quản lý của Sở Khoa học và Công nghệ Hòa Bình


Quy định cơ chế tự chủ của tổ chức KH&CN công lập. Nghị định số 54/2016/NĐ-CP


Quyết định về việc công bố thủ tục hành chính đã chuẩn hóa thuôc phạm vi chức năng quản lý của Sở Khoa học và Công nghệ Hòa Bình


Quy định cơ chế tự chủ của tổ chức KH&CN công lập. Nghị định số 54/2016/NĐ-CP


Quyết định về việc công bố thủ tục hành chính đã chuẩn hóa thuôc phạm vi chức năng quản lý của Sở Khoa học và Công nghệ Hòa Bình


Quy định cơ chế tự chủ của tổ chức KH&CN công lập. Nghị định số 54/2016/NĐ-CP


Quyết định về việc công bố thủ tục hành chính đã chuẩn hóa thuôc phạm vi chức năng quản lý của Sở Khoa học và Công nghệ Hòa Bình



bkhcn
DCS-VN chinh-phu
tap chi KHCN Báo Khoa học & Phát triển
NASATI Varans
khoahoctot  

Thống kê truy cập

0763188
Hôm nay
Hôm qua
Tuần này
Tuần trước
Tháng này
Tháng trước
Tất cả các ngày
1059
1032
3857
753642
29031
28031
763188

Your IP: 54.198.200.157
2017-06-28 19:00