Banner 1222x465 2

DO LUONG

232323232

DOLUONG

QUYPHAT

Banner 06

Untitled333333333
THUVIENKHCN
cam cao phong
Untitled2
Web hosting
pctn77845

cay ba kich vxcv1351xcv

Hướng tới nguồn “dược liệu xanh” là xu thế của thế giới, Việt Nam là quốc gia có nguồn tài nguyên cây thuốc phong phú và đa dạng với khoảng hơn 4000 loài. Với mục tiêu phát triển dược liệu thành ngành sản xuất hàng hóa, ngày 30/10/2013, Thủ Tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 1976/QĐ-TTG quy hoạch tổng thể phát triển dược liệu đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030, trong đó, Ba kích tím là một trong 28 loài dược liệu bản địa có giá trị được chú trọng tập trung phát triển trồng ở quy mô lớn tại các tỉnh vùng núi, trung du miền núi Bắc Bộ với diện tích 4600 ha.


Ba kích tím là một loài dược liệu quý. Theo y học cổ truyền, rễ củ Ba kích tím có vị cay ngọt, tính ôn, có tác dụng ôn thận trợ dương, mạnh gân cốt, khử phong thấp, gân cốt yếu mềm, lưng gối mỏi đau, hỗ trợ thần kinh. Do nhu cầu sử dụng dược liệu tăng mạnh trong thời gian gần đây nên cây Ba kích tím bị khai thác ồ ạt, dẫn đến nguồn nguyên liệu đang ngày một trở nên kiệt quệ. Mặt khác, vùng phân bố của Ba kích tím bị tàn phá nghiêm trọng khiến cho tính đa dạng nguồn gen của loài này đang bị suy giảm trầm trọng. Một số địa phương như: Bắc Giang, Phú Thọ, Thái Nguyên, Thanh Hóa, Quảng Nam... cũng đã xây dựng mô hình trồng Ba kích tím nhưng chủ yếu từ cây gieo hạt và cây giâm hom nên việc mở rộng mô hình trồng gặp nhiều khó khăn do không chủ động được nguồn giống. Năm 2013, Quảng Ninh mới bắt đầu triển khai mô hình trồng chuyên canh cây Ba kích tím bằng giống nuôi cấy mô thông qua dự án liên kết Sở Khoa học Công nghệ tỉnh và Viện Công nghệ Sinh học Viện Hàn Lâm Khoa học.

Sản xuất cây giống dược liệu nói riêng và cây lâm nghiệp nói chung bằng công nghệ nuôi cấy invitro đã được nhiều quốc gia trên thế giới như: Trung Quốc; Ấn Độ; Nhật Bản áp dụng nhằm tạo ra nguồn cây giống có chất lượng đồng đều, sạch bệnh, số lượng lớn, đáp ứng nhu cầu phát triển vùng nguyên liệu trên quy mô lớn. Để đáp ứng nhu cầu về giống cho kế hoạch phát triển vùng dược liệu ngành ở quy mô lớn thì giải pháp sản xuất giống bằng nuôi cấy in vitro là rất cần thiết.

Đứng trước nhu cầu thực tế, nhóm nghiên cứu doThS. Phan Xuân Bình Minh, Trung tâm Sinh học Thực nghiệm dẫn đầu đã thực hiện dự án “Xây dựng mô hình sản xuất giống bằng phương pháp nuôi cấy in vitro và trồng cây Ba kích tím (Morinda officinalis How) ở Trà Lĩnh, Cao Bằng” với các mục tiêu chủ yếu, bao gồm:
- Hoàn thiện 04 quy trình: quy trình xây dựng vườn giống gốc; quy trình nhân giống Ba kích tím bằng phương pháp nuôi cấy in vitro; quy trình đưa cây giống in vitro ra vườn ươm; quy trình trồng Ba kích tím từ cây giống nuôi cấy in vitro dưới tán rừng.
- Sản xuất 20-30 nghìn cây giống Ba kích tím đủ tiêu chuẩn xuất vườn bằng phương pháp nuôi cấy in vito một năm đáp ứng nhu cầu phát triển mô hình trồng Ba kích tím ở Việt Nam.
- Xây dựng mô hình trồng Ba kích tím invitro dưới tán rừng làm mô hình thí điểm để tuyên truyền cho bà con vùng núi và trung du phía bắc.

Sau một thời gian thực hiện, đề tài của nhóm nghiên cứu đã đạt được một số kết quả đáng chú ý như sau:
1. Từ các kết quả kế thừa của đề tài cấp bộ “Nghiên cứu kỹ thuật nhân giống hai loài cây dược liệu có tiềm năng phát triển Ba kích tím (Morinda officinalis How) và Hoằng Đằng (Fibraurea tinctoria Lour.)” và những kết quả nghiên cứu mới của dự án đã hoàn thiện 04 quy trình: quy trình xây dựng vườn giống gốc; quy trình nhân giống Ba kích tím bằng phương pháp nuôi cấy in vitro; quy trình đưa cây giống in vitro ra vườn ươm và quy trình trồng Ba kích tím từ cây giống nuôi cấy in vitro dưới tán rừng.
2. Quy trình xây dựng vườn giống gốc: Đã xây dựng các tiêu chuẩn cho cây giống gốc là: Cây Ba kích tím (Morinda officinnalis How) thu tại Quảng Ninh đang trong giai đoạn phát triển tốt, ít sâu bệnh, có hoa hoặc quả, đường kính gốc 1,3- 1,9cm, có 8-15 cụm hoa hoặc quả, năng suất củ tươi đạt 1,6 -2,1 kg củ/cây, chất lượng củ đạt tiêu chuẩn theo DĐVN IV, hàm lượng các chất trong rễ củ đạt 4,72 % nytose, 6,64 ppm tectoquinon, 3,67 ppm rubiadin; Đã xây dựng được vườn giống gốc 300 cây trên diện tích 200m2 tại Trà Lĩnh Cao Bằng.
3. Quy trình nhân giống Ba kích tím bằng phương pháp nuôi cấy in vitro: Cải thiện môi trường nuôi cấy trong giai đoạn nhân nhanh bằng cách sử dụng môi trường lỏng lắc tốc độ 80 vòng/phút để đã gia tăng hệ số nhân chồi lên 1,4 lần so với môi trường bán rắn sử dụng trước đó và đã ổn định quy trình sản xuất với quy mô 20.000 cây/năm đạt tiêu chuẩn xuất bình.
4. Quy trình đưa cây giống in vitro ra vườn ươm: Để hoàn thiện quy trình đưa cây giống in vitro ra vườn ươm thì cây sau khi huấn luyện được trồng vào bầu nhỏ kích thước 9x15cm với công thức giá thể là 100% đất feralit đỏ vàng, sau 6 tháng chuyển sang bầu lớn kích thước 15 x 25 cm với công thức giá thể là 90% đất feralit đỏ vàng + 10% phân hữu cơ. Sau 12 tháng nuôi trồng đạt tỉ lệ sống 82,13%, cây phát triển tốt, cao 45-26 50cm, có 8-12 cặp lá. Quy trình được thực hiện trên quy mô vườn ươm 1000m2 với khoảng 15000 - 20.000 cây/năm (Đạt tiêu chuẩn vườn cấp II).
5. Quy trình trồng Ba kích tím từ cây giống nuôi cấy in vitro dưới tán rừng: Cây Ba kích tím (Morinda officinalis How) nuôi cấy in vitro trồng thử nghiệm tại Trà Lĩnh (Cao Bằng) sinh trưởng tốt, tỷ lệ cây sống cao (tương ứng đạt 77,5% và 80,5%). Đánh giá sinh trưởng sau 4 năm trồng, cây phát triển ổn định tạo thành bụi lớn, đường kính gốc khoảng 2-2,9 cm, 100% số cây sống đều ra hoa, số lượng quả trung bình đạt 38-42 quả/cây, năng suất dược liệu Ba kích tím tươi đạt 2,9 kg/cây, năng suất dược liệu Ba kích tím khô đạt 1,17kg/cây sau 4 năm nuôi trồng. Chất lượng dược liệu đạt tiêu chuẩn DĐVN IV và có các hoạt chất đều có hàm lượng nytose 4,69%, và tectoquinon đạt 10,33ppm đạt yêu cầu, nhưng lại không phát hiện rubiadin trong mẫu này. Cần tiếp tục nghiên cứu sau 5 năm nuôi trồng. Hiện tại, mô hình trồng Ba kích tím dưới tán rừng hồi đã được mở rộng với quy mô 2ha.

Có thể tìm đọc toàn văn báo cáo kết quả nghiên cứu (Mã số 15171/2018) tại Cục Thông tin KH&CN Quốc gia.
P.K.L (NASATI)

xuat khau hoa quaff54356

Liên minh châu Âu (EU) là một trong những trung tâm thương mại lớn nhất thế giới với hơn 500 triệu dân, sức mua lớn và nhu cầu ổn định. Dù cho kinh tế phục hồi chậm sau các đợt khủng hoảng nhưng nhu cầu với các mặt hàng thiết yếu phục vụ cho tiêu dùng ở các quốc gia trong Liên minh châu Âu không ngừng gia tăng. Những năm qua, EU luôn là thị trường xuất khẩu nông sản quan trọng của Việt Nam và là một trong những nước có tốc độ tăng trưởng xuất khẩu nông sản sang EU cao nhất trong giai đoạn 2012 - 2016.


Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA) được dự báo là sẽ mở ra những cơ hội mới cho Việt Nam nói chung và ngành nông nghiệp Việt Nam nói riêng khi có tới 99% hàng hóa vào thị trường này được hưởng mức thuế suất bằng 0% khi quá trình dỡ bỏ thuế quan được bắt đầu từ năm 2018. Bên cạnh những cam kết về thuế quan, EVFTA cũng là một hiệp định toàn diện, có mức độ cam kết cao, hứa hẹn giúp doanh nghiệp hai bên khai thác nhiều tiềm năng, lợi thế nhằm tăng mạnh về thương mại, đầu tư giữa Việt Nam và các nước thành viên EU trong thời gian tới. Vì vậy, Việt Nam có nhiều cơ hội thu hút đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực chế biến nông sản để xuất khẩu sang thị trường EU.

Tuy nhiên, bên cạnh những cơ hội mà EVFTA mang lại, xuất khẩu nông sản của Việt Nam sang EU cũng phải đối mặt với nhiều thách thức. Các mặt hàng nông sản khi nhập khẩu vào thị trường châu Âu phải đáp ứng các tiêu chuẩn khắt khe về truy xuất nguồn gốc và an toàn vệ sinh thực phẩm. Ngoài yêu cầu cao về chất lượng hàng hóa, EU còn áp dụng nhiều quy định về nhập khẩu hàng hóa như: cấm nhập khẩu với các loại hàng hóa độc hại, giấy phép nhập khẩu áp dụng với một số hàng hóa như ngũ cốc, hạn chế nhập khẩu bằng hạn ngạch, luật chống bán phá giá, giấy chứng nhận kiểm dịch, nhất là đối với hoa quả tươi… cũng như các quy định về trách nhiệm của doanh nghiệp đối với xã hội và môi trường, các chứng chỉ về thương hiệu và thương hiệu quốc gia.

Trong khi đó, xuất khẩu hàng nông sản của Việt Nam chủ yếu vẫn là hàng hóa nguyên liệu hay sơ chế, chưa có giá trị gia tăng cao, nguồn cung cho hàng hóa xuất khẩu chưa đảm bảo khối lượng và chất lượng do sự manh mún trong sản xuất, diện tích trồng cây nguyên liệu nhỏ lẻ, sản lượng thấp, thiếu phương thức canh tác tiên tiến và sự hợp tác chặt chẽ giữa các bên liên quan, khả năng ñáp ứng các tiêu chuẩn của thị trường nhập khẩu, nhất là những thị trường có quy ñịnh nghiêm ngặt như EU còn rất hạn chế…

Từ những phân tích trên, đề tài: “Nghiên cứu đề xuất giải pháp thúc đẩy xuất khẩu nông sản của Việt Nam sang thị trường Liên minh châu Âu trong điều kiện thực hiện Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - Liên minh châu Âu (EVFTA)” doThS. Hoàng Thị Vân Anh, Viện Nghiên cứu Chiến lược, Chính sách Công Thương làm chủ nhiệm là cần thiết và có ý nghĩa đối với thực tiễn phát triển xuất khẩu nông sản của Việt Nam sang EU, góp phần thực hiện thành công các mục tiêu Chiến lược xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam.

Liên minh châu Âu (EU) là một trong những trung tâm thương mại lớn nhất thế giới với hơn 500 triệu dân, sức mua lớn và nhu cầu ổn định. Dù cho kinh tế phục hồi chậm sau các đợt khủng hoảng nhưng nhu cầu với các mặt hàng thiết yếu phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng ở các quốc gia trong Liên minh châu Âu không ngừng gia tăng. Thực tiễn xuất khẩu hàng nông sản của Việt Nam sang thị trường EU cho thấy, EU là thị trường xuất khẩu nông sản, thủy sản quan trọng của Việt Nam và là một trong những nước có tốc độ tăng trưởng xuất khẩu nông sản sang EU cao nhất trong giai ñoạn 2012 - 2016. Tuy nhiên, xuất khẩu hàng nông sản của Việt Nam sang thị trường EU thời gian qua vẫn còn một số hạn chế, bất cập đòi hỏi phải có những giải pháp thiết thực, hiệu quả nhằm thúc đẩy xuất khẩu trong bối cảnh mới, đặc biệt khi EVFTA đã được ký kết và dự kiến sẽ có hiệu lực thực thi năm 2018.

Đề tài đã đạt được những kết quả chủ yếu sau:
- Đưa ra bức tranh tổng quan nghiên cứu thị trường hàng nông sản EU. Có thể thấy, là khu vực đứng đầu thế giới về xuất khẩu cũng như nhập khẩu nông sản, thực phẩm, EU chiếm vị trí quan trọng trên thị trường nông sản thế giới. Theo số liệu của Cộng đồng châu Âu, sản xuất nông nghiệp của EU đạt tổng sản lượng khoảng 411 tỷ Euro, tương đương 3,7% giá trị tổng sản lượng của EU năm 2015. Tuy nhiên, sản xuất nông nghiệp có phần suy giảm trong những năm qua do những khó khăn trong hoạt động xuất khẩu và thời tiết bất lợi đối với nhiều loại cây trồng. Vì vậy, Liên minh châu Âu có nhu cầu nhập khẩu và tiêu thụ cao đối với các loại nông sản, đặc biệt là rau tươi và trái cây nhiệt đới.
- Việc đàm phán và ký kết Hiệp định Thương mại tự do giữa Liên minh châu Âu và Việt Nam đã hoàn tất và quá trình phê chuẩn sẽ tiếp tục được tiến hành để FTA này dự kiến có hiệu lực từ đầu năm 2018. Trong đó, hàng nông thuỷ sản được đánh giá là nhóm hàng được hưởng nhiều lợi ích khi thực hiện EVFTA. EU cam kết xóa bỏ thuế quan ngay khi EVFTA có hiệu lực đối với hàng hóa của Việt Nam thuộc 85,6% số dòng thuế trong biểu thuế, tương đương 70,3% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam vào EU. Trong vòng 7 năm kể từ khi EVFTA có hiệu lực, EU cam kết xóa bỏ 99,2% số dòng thuế trong biểu thuế, tương đương 99,7% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam vào EU. Đối với 0,3% kim ngạch xuất khẩu còn lại (bao gồm một số sản phẩm gạo, ngô ngọt, tỏi, nấm, đường, và các sản phẩm chứa hàm lượng đường cao, tinh bột sắn, cá ngừ đóng hộp), EU cam kết mở cửa cho Việt Nam theo hạn ngạch thuế quan.
- EU là thị trường xuất khẩu nông sản, thủy sản quan trọng của Việt Nam và là một trong những nước có tốc độ tăng trưởng xuất khẩu nông sản sang EU cao nhất trong giai đoạn 2012 - 2016. Tuy nhiên, để thúc đẩy xuất khẩu hàng nông sản của Việt Nam sang thị trường châu Âu thời gian tới khi mà thực hiện EVFTA thì bên cạnh những tác động từ việc giảm thuế, hàng nông sản Việt Nam sẽ phải đáp ứng được các yêu cầu về chất lượng, các tiêu chuẩn kỹ thuật, đặc biệt là vấn đề an toàn thực phẩm đối với hàng nông sản nhập khẩu vào thị trường EU.
- Thị trường hàng nông sản EU thời gian tới chịu ảnh hưởng từ các yếu tố chủ yếu là triển vọng tăng trưởng kinh tế, giá năng lượng, xu hướng tăng trưởng dân số và sự thay đổi thị hiếu tiêu dùng cũng như một số chỉ tiêu kinh tế vĩ mô khác. Khi FTA VN-EU có hiệu lực thực thi, hàng nông sản Việt Nam có nhiều cơ hội để thâm nhập thị trường này. Và để khai thác hiệu quả từ FTA mang lại cũng như nâng cao hiệu quả của hoạt động xuất khẩu hàng nông sản nói chung và sang thị trường EU nói riêng, Việt Nam cần thực hiện mạnh mẽ các giải pháp về cải thiện nguồn cung nông sản, nâng cao sức cạnh tranh của hàng hóa, cải thiện cơ cấu xuất khẩu hàng nông sản, tăng cường khả năng đáp ứng các quy ñịnh của thị trường nhập khẩu EU, đặc biệt là các giải pháp nhằm tận dụng cơ hội và vượt qua thách thức từ EVFTA.

Có thể tìm đọc toàn văn báo cáo kết quả nghiên cứu (Mã số 15181/2017) tại Cục Thông tin KH&CN Quốc gia.

Gen cay ca caođá565656

Bệnh thối quả (ca cao), còn gọi là quả đen, do nấm Phytophthora gây ra, có sự lây lan nhanh chóng trên vỏ hạt cacao trong điều kiện thời tiết mưa và ẩm quá mức, ánh nắng mặt trời không đủ và nhiệt độ thấp. Đây là một bệnh chính gây hạn chế cho ngành sản xuất ca cao. Nguồn: Andrew Fister, Penn State

 

Mới đây, nhóm các nhà di truyền thực vật quốc tế đã xác định được gen có khả năng kháng bệnh của cây ca cao, nguyên liệu chính để sản xuất sô cô la. Phương pháp này có thể giúp cho các nhà nhân giống cây trồng có thể tạo ra được những giống cây trồng mới, có khả năng chịu bệnh.


Mark Guiltinan, giáo sư ngành sinh học phân tử thực vật, Trường Đại học Khoa học Nông nghiệp State Pennsylvania (PSU), đứng đầu nhóm nghiên cứu cho biết, cách mới dùng để xác định các gen kháng bệnh nhanh chóng này cũng có thể áp dụng cho bất kỳ đặc điểm nào có liên kết di truyền trong bất kỳ loài cây nào khá. Ông cũng cho rằng chiến lược nghiên cứu này thể hiện một bước tiến lớn trong nỗ lực phát triển khả năng kháng bệnh của của các loài thực vật lâu năm chẳng hạn như các loài cây, có thể góp phần tăng cường an ninh kinh tế và lương thực toàn cầu.

Trọng tâm của nghiên cứu này là cây cacao, tên khoa học là Theobroma cacao, thường được trồng ở vùng nhiệt đới và là nguồn nguyên liệu để sô cô la. Mặc dù, hạt giống ca cao là một mặt hàng xuất khẩu chính của nhiều nước sản xuất vùng Trung Mỹ, Nam Mỹ, Châu Phi và Châu Á, nhưng bệnh nấm đã gây sụt giảm khoảng 30 - 40% sản lượng ca cao hàng năm trên toàn thế giới.

Trong một thời gian dài, các nhà khoa học đã cố gắng tìm ra cách để giảm thiểu những tổn thất này và tăng cường khả năng kháng bệnh cho cây ca cao – một cách tiếp cận hiệu quả và thân thiện với môi trường nhất cho quản lý các loại bệnh đối với cây trồng, Guiltinan nhấn mạnh.

Guiltinan đã tập hợp một nhóm liên ngành cùng tham gia vào nghiên cứu này. Bằng cách thu thập các mẫu lá từ cây ca cao tại Bộ sưu tập ca cao quốc tế (CATIE), ở Turrialba, Costa Rica, nhóm nghiên cứu bắt đầu đo mức nhạy cảm của 60 kiểu gen của ca cao đối với nấm Phytophthora palmivora - tác nhân gây bệnh nguy hại và phổ biến đối với cây ca cao.

Nhóm nghiên cứu tập trung vào bốn nhóm cây ca cao di truyền gồm Guiana, Iquitos, Marañon và Nanay, đều có nguồn gốc từ vùng Amazon (Nam Mỹ), Ngoài ra họ cũng thu thập thêm lá của các giống cây đại diện cho 4 kiểu gen là: Scavina 6, Imperial College Selection 1; CATIE R4 và R6.

Trong thời gian lấy mẫu kéo dài 9 tháng, các nhà nghiên cứu đã tiêm vào 1.250 lá cacao mầm bệnh Phytophthora palmivora và sau đó họ phân tích và đo mức độ tổn thương trên lá để đánh giá khả năng kháng bệnh. Họ đã xác định được 16 kiểu gen cho thấy khả năng chịu bệnh mạnh nhất và đánh giá được 16 kiểu gen dễ mắc bệnh khác. Sau đó, họ giải mã trình tự bộ gen của hầu hết các giống cây này để xem chúng sự khác nhau của từng mẫu.

“Kết quả giải trình tự bộ gen sẽ cho phép các nhà lai tạo cải thiện di truyền của ca cao chính xác và nhanh chóng hơn, và cuối cùng là phát triển được các hệ thống canh tác ca cao bền vững hơn và cải thiện phúc lợi của nông dân trồng cacao trên toàn thế giới”, Guiltinan cho biết.

Cách tiếp cận để khám phá ra các cơ sở di truyền có khả năng kháng bệnh mới này thành công là nhờ vào sự tiến bộ trong giải trình tự ADN. Công nghệ này đã nhanh chóng đẩy nhanh quá trình phân tích và giảm chi phí, Guiltinan nói.

Phần lớn nghiên cứu, công bố trên tạp chí Tree Genetics & Genomes mới đây, được tiến hành tại Cơ sở gen ở Viện nghiên cứu khoa học đời sống thuộc PSU bởi các nhà giải mã bộ gen tại Trung tâm y tế Hershey, PSU.

“Bước phát triển nhảy vọt của công nghệ đã mở ra một kỷ nguyên mới về nghiên cứu kháng bệnh cho cây, điều mà trước đây phải mất hàng thập kỷ mới có thể thu được các kết quả của việc nhân giống và thao tác di truyền. Bây giờ, thay vì chỉ có thể nghiên cứu một gen tại một thời điểm, có thể nghiên cứu một bộ gen cùng một thời điểm. Hiện nhóm nghiên cứu chúng tôi đang nghiên cứu hàng ngàn gen và sự đa dạng di truyền của các gen này trong các kiểu gen khác nhau của ca cao, ở một cấp độ hoàn toàn mới”. Guiltinan nói.

Một hạn chế lớn đối với việc tăng sản lượng lương thực là bị mất mùa do cây trồng bị mắc bệnh. Vi khuẩn có thể phá hủy khoảng 15% tổng sản lượng cây trồng của thế giới mỗi năm. Do đó, những tiến bộ trong khoa học trong kiểm soát bệnh ở thực vật là cần thiết để giảm những tổn thất này và việc phát hiện ra các gen kháng bệnh sẽ mở ra tiềm năng lớn của sự đa dạng di truyền trong nhân giống cây trồng trong tương lai.

dinh huong polime đá86465156

Việt Nam là nước có khí hậu nhiệt đới nóng ẩm nên các sinh vật biển như hà, hàu, rong, rêu v.v... (gọi chung là hà) phát triển rất mạnh. Tàu thuyền và các kết cấu dưới mặt nước nếu không được bảo vệ sẽ bị hà bao phủ dẫn đến những hệ quả như: Làm tăng lực ma sát do độ nhám cao, dẫn đến sự tăng trọng lượng tàu. Khảo sát cho thấy, nếu thân tàu không được bảo vệ thì sau 6 tháng mỗi mét vuông có thể bị bám bởi 150 kg hà biển. Như vậy, với một con tàu chở dầu có diện tích ngập nước là 40.000 m2 thì sẽ bị tăng thêm trọng lượng tới 6.000 tấn. Điều này dẫn đến sự gia tăng mức tiêu thụ nhiên liệu lên đến 40% và tổng chi phí vận chuyển vượt khoảng 77%.


Sơn chống hà tự bào mòn chứa copolyme cơ thiếc (chứa TBT) từng được sử dụng rộng rãi (chiếm khoảng 90% lượng sơn chống hà) để bảo vệ lớp vỏ tàu biển do hiệu quả chống hà bám (chống bám bẩn) của màng sơn rất cao. Cơ chế hoạt động của màng sơn này được tóm tắt trong hình 1.3. Màng sơn sử dụng copolyme chứa (met)acrylat với nhóm este của thiếc. Lớp sơn ngoài cùng tiếp xúc với nước biển ban đầu không tan, tuy nhiên sau một thời gian trên bề mặt lớp sơn diễn ra phản ứng thủy phân cắt đứt liên kết este và biến nó thành muối cacboxilat. Lớp polyme thủy phân tan dần trong nước đồng thời kéo theo sự giải phóng muối tributyl thiếc clorua - là độc tố với hà. Lớp bề mặt mới không tan hiện ra và đến lượt nó lại chịu tác động của quá trình thủy phân và hòa tan như đã trình bày. Tốc độ bào mòn với hệ sơn cơ thiếc này chậm nhưng rất ổn định nên hiệu quả chống hà có thể lên tới 60 tháng.

Tuy nhiên, do tributyl thiếc clorua có độ độc cao ngay cả ở nồng độ rất thấp (2 ng.L-1) đối với rất nhiều loài sinh vật biển nên năm 2001 Tổ chức Hàng hải Quốc tế đã thông qua Hiệp ước về Sơn chống hà (AFS/CONF/26) theo đó cấm sử dụng các loại sơn chứa TBT cho tàu biển kể từ 1/1/2003 và cho đến 1/1/2008 sơn này phải được loại bỏ hoàn toàn khỏi vỏ tàu và các kết cấu dưới mặt biển. Việt Nam đã phê chuẩn Hiệp ước này và chính thức có hiệu lực từ 27/02/2016. Vì vậy, việc phát triển các hệ sơn có hiệu quả chống hà cao không chỉ có ý nghĩa về mặt khoa học mà còn có ý nghĩa thực tiễn cấp thiết. Ở Việt Nam, sơn chống hà đã được nghiên cứu từ những năm 1980 và cũng đã thu được một số kết quả nhất định. Một trong số những cơ sở tiên phong là Công ty sơn Hải Phòng và gần đây là CTCP Sơn Dầu khí đã nghiên cứu và sản xuất sơn chống hà gốc nhựa đường. Sau đó là nghiên cứu biến tính cao su để làm màng sơn cứng trên cơ sở cao su clo hóa. Hiệu quả chống hà của các màng sơn này thường thấp (lý do như đã trình bày ở trên). Chưa có nghiên cứu nào tại Việt Nam ứng dụng các copolyme khối tổng hợp, có cấu trúc và phân tử khối kiểm soát để chế tạo màng sơn tự bào mòn. Các sản phẩm sơn chống hà tự bào mòn hiện có trên thị trường chủ yếu được nhập khẩu (sản xuất) bởi các công ty nước ngoài hoặc liên doanh sản xuất theo bản quyền công nghệ của nước ngoài. Tuy nhiên, giá thành còn khá cao và hiệu quả chống hà cũng chỉ từ 1 đến 3 năm.

Như vậy đề xuất này là sự tiếp nối của đề tài Nafosted (sơn chống hà trên cơ sở copolyme hai thành phần) nhằm cải thiện và tăng cường tính năng cơ lý, phát huy các tính năng chống hà của hệ sơn. Trên cơ sở định hướng đó, Đại học Quốc gia Hà Nội đã cùng phối hợp với Chủ nhiệm đề tàiTS. Nguyễn Minh Ngọcđề xuất trong đề tài nghiên cứu này: Thay thế copolyme hai thành phần bằng copolyme ba thành phần trên cơ sở tert-butyldimetylsilyl metacrylat (tBDMSMA), metyl metacrylat (MMA) và butyl acrylat (BA).

Quá trình tổng hợp copolyme phân bố ngẫu nhiên và copolyme khối trên cơ sở MMA, BA, và tBDMSMA bằng phương pháp RAFT cho hiệu suất cao, khả năng kiểm soát khối lượng phân tử và độ phân bố khối lượng phân tử đạt kết quả tốt. Các copolyme thu được có sự đồng đều về kích thước mạch. Kết quả nghiên cứu sự bào mòn cho thấy cấu trúc và thành phần của copolyme có ảnh hưởng lớn tới kiểu bào mòn và tốc độ bào mòn. Tốc độ bào mòn của màng sơn nghiên cứu nằm trong khoảng tương đương tốc độ bào mòn của sơn cơ thiếc.

Có thể tìm đọc báo cáo kết quả nghiên cứu (mã số 15237/2018) tại Cục Thông tin KH&CNQG

Keo sieu ket dinhFSD561641651

Hiện nay, các sản phẩm keo dính thường được sử dụng để gắn nhãn dán lên xe ô tô hoặc được sử dụng trong nghệ thuật trang trí và thủ công, tuy nhiên, mức độ kết dính của nhiều loại vật liệu chưa thực sự mang lại hiệu quả như mong đợi. Trong một nghiên cứu mới đây, các nhà khoa học ở Canada đã giới thiệu một công thức mới, trong đó, họ sử dụng các liên kết cực mạnh ở cấp độ phân tử để tạo ra các liên kết mới, giúp tăng hiệu quả kết dính.


Nghiên cứu được thực hiện bởi nhóm các nhà khoa học vật liệu tại trường Đại học British Columbia và Đại học Victoria, đã mô tả vật liệu mới là một chất keo siêu kết dính. Chìa khóa cho công thức mới là hiện tượng liên kết chéo - quá trình xảy ra khi các phân tử được thiết kế đặc biệt tiếp xúc với nhiệt độ hoặc tia UV - sóng điện từ có bước sóng dài, gây ra một loại phản ứng hóa học mới.

Các nhà nghiên cứu cho biết: "Các phân tử này có thể được kích hoạt bằng nhiệt hoặc phản ứng quang hóa để tạo thành các phân tử carben dễ dàng chèn vào các liên kết carbon-hydro polymer, từ đó, tạo thành liên kết ngang".

Các liên kết ngang có vai trò làm tăng khả năng gắn kết những chất liệu khác nhau cùng khả năng chống va đập và chống ăn mòn hiệu quả hơn. Công nghệ mới còn có thể được “áp dụng rộng rãi” nhằm kết dính chất liệu nhựa dẻo và sợi tổng hợp, các loại chất liệu mà khi sử dụng các loại keo dán công nghiệp hiện đang có sẵn trên thị trường không đem lại hiệu quả.

GS. Abbas Milani, tác giả chính của nghiên cứu cho biết: “Chất kết dính này thực chất là polyetylen mật độ cao, một loại nhựa polyolefin nhiệt dẻo được sản xuất bằng copolymerization ethylene quan trọng thường được sử dụng trong sản xuất các sản phẩm chai lọ, ống, màng địa kỹ thuật, gỗ nhựa và nhiều ứng dụng khác. Trên thực tế, việc sử dụng các loại keo công nghiệp có sẵn trên thị trường nhằm kết dính các loại chất liệu này thường không mang lại hiệu quả, do đó, công nghệ của chúng tôi hiển nhiên trở thành một nền tảng ấn tượng cho một loạt các ứng dụng quan trọng”.

Theo chia sẻ của nhóm nghiên cứu, một trong những ứng dụng hứa hẹn của công nghệ siêu kết dính của họ là vai trò làm chất liên kết giúp tăng độ bền cho các sản phẩm may mặc. Nhóm đã hợp tác với các nhà nghiên cứu khác về việc thử nghiệm ứng dụng trên các loại trang phục mới, bao gồm cả áo giáp cơ thể hay còn gọi là áo giáp cá nhân hiệu suất cao với khả năng bảo vệ đạn đạo hiệu quả.

Wulff cho biết: “Bằng cách sử dụng công nghệ có liên kết chéo này, chúng tôi có thể kết hợp hiệu quả hơn các loại vải khác nhau để tạo ra những trang phục thế hệ tiếp theo có khả năng được sử dụng trong điều kiện môi trường khắc nghiệt. Ngoài ra, các loại vải có liên kết ngang thường có độ bền rất cao”.

Tuy nhiên, tiềm năng của vật liệu keo siêu dính mới còn có thể được mở rộng và áp dụng hiệu quả trong nhiều ứng dụng khác, bao gồm: cấy ghép y học hiệu quả, hệ thống ống nước gia dụng chắc, bền hoặc đơn giản là chất phụ gia để tăng hiệu suất cho tất cả các loại sản phẩm thông thường.

Milani chia sẻ: “Chúng tôi thậm chí bắt đầu nghĩ tới việc sử dụng vật liệu như một công cụ nhằm gắn kết nhiều chất liệu nhựa khác nhau với nhau, đây là một thách thức lớn trong quá trình tái chế nhựa và vật liệu tổng hợp của chúng. Nhiều nhà hóa học và kỹ sư vật liệu composite đang nỗ lực cải thiện vật liệu nhằm gia tăng độ chắc, độ bền của các sản phẩm vật dụng hằng ngày”.

Kết quả nghiên cứu được công bố trên tạp chíKhoa học.

Tìm kiếm...

Thông báo mới

Quy định cơ chế tự chủ của tổ chức KH&CN công lập. Nghị định số 54/2016/NĐ-CP


Quyết định 23/2015/QĐ-UBND ngày 13/8/2015 của UBND tỉnh Hòa Bình về việc ban hành quy định vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Hòa Bình


Quyết định số 19/QĐ-SKHCN ngày 31/01/2018 về việc ban hành quy chế làm việc của Sở Khoa học và Công nghệ


Thông báo tuyển dụng lao động hợp đồng theo Nghị định số 68/2000/NĐ-CP ngày 17/11/2000 của Chính Phủ


Quyết định về việc công bố thủ tục hành chính đã chuẩn hóa thuôc phạm vi chức năng quản lý của Sở Khoa học và Công nghệ Hòa Bình


Quy định cơ chế tự chủ của tổ chức KH&CN công lập. Nghị định số 54/2016/NĐ-CP


Quyết định 23/2015/QĐ-UBND ngày 13/8/2015 của UBND tỉnh Hòa Bình về việc ban hành quy định vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Hòa Bình


Quyết định số 19/QĐ-SKHCN ngày 31/01/2018 về việc ban hành quy chế làm việc của Sở Khoa học và Công nghệ


Thông báo tuyển dụng lao động hợp đồng theo Nghị định số 68/2000/NĐ-CP ngày 17/11/2000 của Chính Phủ


Quyết định về việc công bố thủ tục hành chính đã chuẩn hóa thuôc phạm vi chức năng quản lý của Sở Khoa học và Công nghệ Hòa Bình


Quy định cơ chế tự chủ của tổ chức KH&CN công lập. Nghị định số 54/2016/NĐ-CP


Quyết định 23/2015/QĐ-UBND ngày 13/8/2015 của UBND tỉnh Hòa Bình về việc ban hành quy định vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Hòa Bình


Quyết định số 19/QĐ-SKHCN ngày 31/01/2018 về việc ban hành quy chế làm việc của Sở Khoa học và Công nghệ


Thông báo tuyển dụng lao động hợp đồng theo Nghị định số 68/2000/NĐ-CP ngày 17/11/2000 của Chính Phủ


Quyết định về việc công bố thủ tục hành chính đã chuẩn hóa thuôc phạm vi chức năng quản lý của Sở Khoa học và Công nghệ Hòa Bình


Quy định cơ chế tự chủ của tổ chức KH&CN công lập. Nghị định số 54/2016/NĐ-CP


Quyết định 23/2015/QĐ-UBND ngày 13/8/2015 của UBND tỉnh Hòa Bình về việc ban hành quy định vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Hòa Bình


Quyết định số 19/QĐ-SKHCN ngày 31/01/2018 về việc ban hành quy chế làm việc của Sở Khoa học và Công nghệ


Thông báo tuyển dụng lao động hợp đồng theo Nghị định số 68/2000/NĐ-CP ngày 17/11/2000 của Chính Phủ


Quyết định về việc công bố thủ tục hành chính đã chuẩn hóa thuôc phạm vi chức năng quản lý của Sở Khoa học và Công nghệ Hòa Bình


Quy định cơ chế tự chủ của tổ chức KH&CN công lập. Nghị định số 54/2016/NĐ-CP


Quyết định 23/2015/QĐ-UBND ngày 13/8/2015 của UBND tỉnh Hòa Bình về việc ban hành quy định vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Hòa Bình


Quyết định số 19/QĐ-SKHCN ngày 31/01/2018 về việc ban hành quy chế làm việc của Sở Khoa học và Công nghệ


Thông báo tuyển dụng lao động hợp đồng theo Nghị định số 68/2000/NĐ-CP ngày 17/11/2000 của Chính Phủ


Quyết định về việc công bố thủ tục hành chính đã chuẩn hóa thuôc phạm vi chức năng quản lý của Sở Khoa học và Công nghệ Hòa Bình


Quy định cơ chế tự chủ của tổ chức KH&CN công lập. Nghị định số 54/2016/NĐ-CP


Quyết định 23/2015/QĐ-UBND ngày 13/8/2015 của UBND tỉnh Hòa Bình về việc ban hành quy định vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Hòa Bình


Quyết định số 19/QĐ-SKHCN ngày 31/01/2018 về việc ban hành quy chế làm việc của Sở Khoa học và Công nghệ


Thông báo tuyển dụng lao động hợp đồng theo Nghị định số 68/2000/NĐ-CP ngày 17/11/2000 của Chính Phủ


Quyết định về việc công bố thủ tục hành chính đã chuẩn hóa thuôc phạm vi chức năng quản lý của Sở Khoa học và Công nghệ Hòa Bình


Quy định cơ chế tự chủ của tổ chức KH&CN công lập. Nghị định số 54/2016/NĐ-CP


Quyết định 23/2015/QĐ-UBND ngày 13/8/2015 của UBND tỉnh Hòa Bình về việc ban hành quy định vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Hòa Bình


Quyết định số 19/QĐ-SKHCN ngày 31/01/2018 về việc ban hành quy chế làm việc của Sở Khoa học và Công nghệ


Thông báo tuyển dụng lao động hợp đồng theo Nghị định số 68/2000/NĐ-CP ngày 17/11/2000 của Chính Phủ


Quyết định về việc công bố thủ tục hành chính đã chuẩn hóa thuôc phạm vi chức năng quản lý của Sở Khoa học và Công nghệ Hòa Bình


Quy định cơ chế tự chủ của tổ chức KH&CN công lập. Nghị định số 54/2016/NĐ-CP


Quyết định 23/2015/QĐ-UBND ngày 13/8/2015 của UBND tỉnh Hòa Bình về việc ban hành quy định vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Hòa Bình


Quyết định số 19/QĐ-SKHCN ngày 31/01/2018 về việc ban hành quy chế làm việc của Sở Khoa học và Công nghệ


Thông báo tuyển dụng lao động hợp đồng theo Nghị định số 68/2000/NĐ-CP ngày 17/11/2000 của Chính Phủ


Quyết định về việc công bố thủ tục hành chính đã chuẩn hóa thuôc phạm vi chức năng quản lý của Sở Khoa học và Công nghệ Hòa Bình



Dan hoi GD So tra loi
bkhcn
DCS-VN chinh-phu
tap chi KHCN Báo Khoa học & Phát triển
NASATI Varans
Dich vu hanh chinh cong

Thống kê truy cập

1932586
Hôm nay
Hôm qua
Tuần này
Tuần trước
Tháng này
Tháng trước
Tất cả các ngày
657
621
2919
1922851
20265
34604
1932586

Your IP: 34.205.93.2
2020-09-23 19:31