Banner 1222x465 2

DO LUONG

ung dung

thong ke

DOLUONG

QUYPHAT

Banner 06

THUVIENKHCN
cam cao phong
Untitled2
Web hosting
pctn77845

Gen cay ca caođá565656

Bệnh thối quả (ca cao), còn gọi là quả đen, do nấm Phytophthora gây ra, có sự lây lan nhanh chóng trên vỏ hạt cacao trong điều kiện thời tiết mưa và ẩm quá mức, ánh nắng mặt trời không đủ và nhiệt độ thấp. Đây là một bệnh chính gây hạn chế cho ngành sản xuất ca cao. Nguồn: Andrew Fister, Penn State

 

Mới đây, nhóm các nhà di truyền thực vật quốc tế đã xác định được gen có khả năng kháng bệnh của cây ca cao, nguyên liệu chính để sản xuất sô cô la. Phương pháp này có thể giúp cho các nhà nhân giống cây trồng có thể tạo ra được những giống cây trồng mới, có khả năng chịu bệnh.


Mark Guiltinan, giáo sư ngành sinh học phân tử thực vật, Trường Đại học Khoa học Nông nghiệp State Pennsylvania (PSU), đứng đầu nhóm nghiên cứu cho biết, cách mới dùng để xác định các gen kháng bệnh nhanh chóng này cũng có thể áp dụng cho bất kỳ đặc điểm nào có liên kết di truyền trong bất kỳ loài cây nào khá. Ông cũng cho rằng chiến lược nghiên cứu này thể hiện một bước tiến lớn trong nỗ lực phát triển khả năng kháng bệnh của của các loài thực vật lâu năm chẳng hạn như các loài cây, có thể góp phần tăng cường an ninh kinh tế và lương thực toàn cầu.

Trọng tâm của nghiên cứu này là cây cacao, tên khoa học là Theobroma cacao, thường được trồng ở vùng nhiệt đới và là nguồn nguyên liệu để sô cô la. Mặc dù, hạt giống ca cao là một mặt hàng xuất khẩu chính của nhiều nước sản xuất vùng Trung Mỹ, Nam Mỹ, Châu Phi và Châu Á, nhưng bệnh nấm đã gây sụt giảm khoảng 30 - 40% sản lượng ca cao hàng năm trên toàn thế giới.

Trong một thời gian dài, các nhà khoa học đã cố gắng tìm ra cách để giảm thiểu những tổn thất này và tăng cường khả năng kháng bệnh cho cây ca cao – một cách tiếp cận hiệu quả và thân thiện với môi trường nhất cho quản lý các loại bệnh đối với cây trồng, Guiltinan nhấn mạnh.

Guiltinan đã tập hợp một nhóm liên ngành cùng tham gia vào nghiên cứu này. Bằng cách thu thập các mẫu lá từ cây ca cao tại Bộ sưu tập ca cao quốc tế (CATIE), ở Turrialba, Costa Rica, nhóm nghiên cứu bắt đầu đo mức nhạy cảm của 60 kiểu gen của ca cao đối với nấm Phytophthora palmivora - tác nhân gây bệnh nguy hại và phổ biến đối với cây ca cao.

Nhóm nghiên cứu tập trung vào bốn nhóm cây ca cao di truyền gồm Guiana, Iquitos, Marañon và Nanay, đều có nguồn gốc từ vùng Amazon (Nam Mỹ), Ngoài ra họ cũng thu thập thêm lá của các giống cây đại diện cho 4 kiểu gen là: Scavina 6, Imperial College Selection 1; CATIE R4 và R6.

Trong thời gian lấy mẫu kéo dài 9 tháng, các nhà nghiên cứu đã tiêm vào 1.250 lá cacao mầm bệnh Phytophthora palmivora và sau đó họ phân tích và đo mức độ tổn thương trên lá để đánh giá khả năng kháng bệnh. Họ đã xác định được 16 kiểu gen cho thấy khả năng chịu bệnh mạnh nhất và đánh giá được 16 kiểu gen dễ mắc bệnh khác. Sau đó, họ giải mã trình tự bộ gen của hầu hết các giống cây này để xem chúng sự khác nhau của từng mẫu.

“Kết quả giải trình tự bộ gen sẽ cho phép các nhà lai tạo cải thiện di truyền của ca cao chính xác và nhanh chóng hơn, và cuối cùng là phát triển được các hệ thống canh tác ca cao bền vững hơn và cải thiện phúc lợi của nông dân trồng cacao trên toàn thế giới”, Guiltinan cho biết.

Cách tiếp cận để khám phá ra các cơ sở di truyền có khả năng kháng bệnh mới này thành công là nhờ vào sự tiến bộ trong giải trình tự ADN. Công nghệ này đã nhanh chóng đẩy nhanh quá trình phân tích và giảm chi phí, Guiltinan nói.

Phần lớn nghiên cứu, công bố trên tạp chí Tree Genetics & Genomes mới đây, được tiến hành tại Cơ sở gen ở Viện nghiên cứu khoa học đời sống thuộc PSU bởi các nhà giải mã bộ gen tại Trung tâm y tế Hershey, PSU.

“Bước phát triển nhảy vọt của công nghệ đã mở ra một kỷ nguyên mới về nghiên cứu kháng bệnh cho cây, điều mà trước đây phải mất hàng thập kỷ mới có thể thu được các kết quả của việc nhân giống và thao tác di truyền. Bây giờ, thay vì chỉ có thể nghiên cứu một gen tại một thời điểm, có thể nghiên cứu một bộ gen cùng một thời điểm. Hiện nhóm nghiên cứu chúng tôi đang nghiên cứu hàng ngàn gen và sự đa dạng di truyền của các gen này trong các kiểu gen khác nhau của ca cao, ở một cấp độ hoàn toàn mới”. Guiltinan nói.

Một hạn chế lớn đối với việc tăng sản lượng lương thực là bị mất mùa do cây trồng bị mắc bệnh. Vi khuẩn có thể phá hủy khoảng 15% tổng sản lượng cây trồng của thế giới mỗi năm. Do đó, những tiến bộ trong khoa học trong kiểm soát bệnh ở thực vật là cần thiết để giảm những tổn thất này và việc phát hiện ra các gen kháng bệnh sẽ mở ra tiềm năng lớn của sự đa dạng di truyền trong nhân giống cây trồng trong tương lai.

dinh huong polime đá86465156

Việt Nam là nước có khí hậu nhiệt đới nóng ẩm nên các sinh vật biển như hà, hàu, rong, rêu v.v... (gọi chung là hà) phát triển rất mạnh. Tàu thuyền và các kết cấu dưới mặt nước nếu không được bảo vệ sẽ bị hà bao phủ dẫn đến những hệ quả như: Làm tăng lực ma sát do độ nhám cao, dẫn đến sự tăng trọng lượng tàu. Khảo sát cho thấy, nếu thân tàu không được bảo vệ thì sau 6 tháng mỗi mét vuông có thể bị bám bởi 150 kg hà biển. Như vậy, với một con tàu chở dầu có diện tích ngập nước là 40.000 m2 thì sẽ bị tăng thêm trọng lượng tới 6.000 tấn. Điều này dẫn đến sự gia tăng mức tiêu thụ nhiên liệu lên đến 40% và tổng chi phí vận chuyển vượt khoảng 77%.


Sơn chống hà tự bào mòn chứa copolyme cơ thiếc (chứa TBT) từng được sử dụng rộng rãi (chiếm khoảng 90% lượng sơn chống hà) để bảo vệ lớp vỏ tàu biển do hiệu quả chống hà bám (chống bám bẩn) của màng sơn rất cao. Cơ chế hoạt động của màng sơn này được tóm tắt trong hình 1.3. Màng sơn sử dụng copolyme chứa (met)acrylat với nhóm este của thiếc. Lớp sơn ngoài cùng tiếp xúc với nước biển ban đầu không tan, tuy nhiên sau một thời gian trên bề mặt lớp sơn diễn ra phản ứng thủy phân cắt đứt liên kết este và biến nó thành muối cacboxilat. Lớp polyme thủy phân tan dần trong nước đồng thời kéo theo sự giải phóng muối tributyl thiếc clorua - là độc tố với hà. Lớp bề mặt mới không tan hiện ra và đến lượt nó lại chịu tác động của quá trình thủy phân và hòa tan như đã trình bày. Tốc độ bào mòn với hệ sơn cơ thiếc này chậm nhưng rất ổn định nên hiệu quả chống hà có thể lên tới 60 tháng.

Tuy nhiên, do tributyl thiếc clorua có độ độc cao ngay cả ở nồng độ rất thấp (2 ng.L-1) đối với rất nhiều loài sinh vật biển nên năm 2001 Tổ chức Hàng hải Quốc tế đã thông qua Hiệp ước về Sơn chống hà (AFS/CONF/26) theo đó cấm sử dụng các loại sơn chứa TBT cho tàu biển kể từ 1/1/2003 và cho đến 1/1/2008 sơn này phải được loại bỏ hoàn toàn khỏi vỏ tàu và các kết cấu dưới mặt biển. Việt Nam đã phê chuẩn Hiệp ước này và chính thức có hiệu lực từ 27/02/2016. Vì vậy, việc phát triển các hệ sơn có hiệu quả chống hà cao không chỉ có ý nghĩa về mặt khoa học mà còn có ý nghĩa thực tiễn cấp thiết. Ở Việt Nam, sơn chống hà đã được nghiên cứu từ những năm 1980 và cũng đã thu được một số kết quả nhất định. Một trong số những cơ sở tiên phong là Công ty sơn Hải Phòng và gần đây là CTCP Sơn Dầu khí đã nghiên cứu và sản xuất sơn chống hà gốc nhựa đường. Sau đó là nghiên cứu biến tính cao su để làm màng sơn cứng trên cơ sở cao su clo hóa. Hiệu quả chống hà của các màng sơn này thường thấp (lý do như đã trình bày ở trên). Chưa có nghiên cứu nào tại Việt Nam ứng dụng các copolyme khối tổng hợp, có cấu trúc và phân tử khối kiểm soát để chế tạo màng sơn tự bào mòn. Các sản phẩm sơn chống hà tự bào mòn hiện có trên thị trường chủ yếu được nhập khẩu (sản xuất) bởi các công ty nước ngoài hoặc liên doanh sản xuất theo bản quyền công nghệ của nước ngoài. Tuy nhiên, giá thành còn khá cao và hiệu quả chống hà cũng chỉ từ 1 đến 3 năm.

Như vậy đề xuất này là sự tiếp nối của đề tài Nafosted (sơn chống hà trên cơ sở copolyme hai thành phần) nhằm cải thiện và tăng cường tính năng cơ lý, phát huy các tính năng chống hà của hệ sơn. Trên cơ sở định hướng đó, Đại học Quốc gia Hà Nội đã cùng phối hợp với Chủ nhiệm đề tàiTS. Nguyễn Minh Ngọcđề xuất trong đề tài nghiên cứu này: Thay thế copolyme hai thành phần bằng copolyme ba thành phần trên cơ sở tert-butyldimetylsilyl metacrylat (tBDMSMA), metyl metacrylat (MMA) và butyl acrylat (BA).

Quá trình tổng hợp copolyme phân bố ngẫu nhiên và copolyme khối trên cơ sở MMA, BA, và tBDMSMA bằng phương pháp RAFT cho hiệu suất cao, khả năng kiểm soát khối lượng phân tử và độ phân bố khối lượng phân tử đạt kết quả tốt. Các copolyme thu được có sự đồng đều về kích thước mạch. Kết quả nghiên cứu sự bào mòn cho thấy cấu trúc và thành phần của copolyme có ảnh hưởng lớn tới kiểu bào mòn và tốc độ bào mòn. Tốc độ bào mòn của màng sơn nghiên cứu nằm trong khoảng tương đương tốc độ bào mòn của sơn cơ thiếc.

Có thể tìm đọc báo cáo kết quả nghiên cứu (mã số 15237/2018) tại Cục Thông tin KH&CNQG

Keo sieu ket dinhFSD561641651

Hiện nay, các sản phẩm keo dính thường được sử dụng để gắn nhãn dán lên xe ô tô hoặc được sử dụng trong nghệ thuật trang trí và thủ công, tuy nhiên, mức độ kết dính của nhiều loại vật liệu chưa thực sự mang lại hiệu quả như mong đợi. Trong một nghiên cứu mới đây, các nhà khoa học ở Canada đã giới thiệu một công thức mới, trong đó, họ sử dụng các liên kết cực mạnh ở cấp độ phân tử để tạo ra các liên kết mới, giúp tăng hiệu quả kết dính.


Nghiên cứu được thực hiện bởi nhóm các nhà khoa học vật liệu tại trường Đại học British Columbia và Đại học Victoria, đã mô tả vật liệu mới là một chất keo siêu kết dính. Chìa khóa cho công thức mới là hiện tượng liên kết chéo - quá trình xảy ra khi các phân tử được thiết kế đặc biệt tiếp xúc với nhiệt độ hoặc tia UV - sóng điện từ có bước sóng dài, gây ra một loại phản ứng hóa học mới.

Các nhà nghiên cứu cho biết: "Các phân tử này có thể được kích hoạt bằng nhiệt hoặc phản ứng quang hóa để tạo thành các phân tử carben dễ dàng chèn vào các liên kết carbon-hydro polymer, từ đó, tạo thành liên kết ngang".

Các liên kết ngang có vai trò làm tăng khả năng gắn kết những chất liệu khác nhau cùng khả năng chống va đập và chống ăn mòn hiệu quả hơn. Công nghệ mới còn có thể được “áp dụng rộng rãi” nhằm kết dính chất liệu nhựa dẻo và sợi tổng hợp, các loại chất liệu mà khi sử dụng các loại keo dán công nghiệp hiện đang có sẵn trên thị trường không đem lại hiệu quả.

GS. Abbas Milani, tác giả chính của nghiên cứu cho biết: “Chất kết dính này thực chất là polyetylen mật độ cao, một loại nhựa polyolefin nhiệt dẻo được sản xuất bằng copolymerization ethylene quan trọng thường được sử dụng trong sản xuất các sản phẩm chai lọ, ống, màng địa kỹ thuật, gỗ nhựa và nhiều ứng dụng khác. Trên thực tế, việc sử dụng các loại keo công nghiệp có sẵn trên thị trường nhằm kết dính các loại chất liệu này thường không mang lại hiệu quả, do đó, công nghệ của chúng tôi hiển nhiên trở thành một nền tảng ấn tượng cho một loạt các ứng dụng quan trọng”.

Theo chia sẻ của nhóm nghiên cứu, một trong những ứng dụng hứa hẹn của công nghệ siêu kết dính của họ là vai trò làm chất liên kết giúp tăng độ bền cho các sản phẩm may mặc. Nhóm đã hợp tác với các nhà nghiên cứu khác về việc thử nghiệm ứng dụng trên các loại trang phục mới, bao gồm cả áo giáp cơ thể hay còn gọi là áo giáp cá nhân hiệu suất cao với khả năng bảo vệ đạn đạo hiệu quả.

Wulff cho biết: “Bằng cách sử dụng công nghệ có liên kết chéo này, chúng tôi có thể kết hợp hiệu quả hơn các loại vải khác nhau để tạo ra những trang phục thế hệ tiếp theo có khả năng được sử dụng trong điều kiện môi trường khắc nghiệt. Ngoài ra, các loại vải có liên kết ngang thường có độ bền rất cao”.

Tuy nhiên, tiềm năng của vật liệu keo siêu dính mới còn có thể được mở rộng và áp dụng hiệu quả trong nhiều ứng dụng khác, bao gồm: cấy ghép y học hiệu quả, hệ thống ống nước gia dụng chắc, bền hoặc đơn giản là chất phụ gia để tăng hiệu suất cho tất cả các loại sản phẩm thông thường.

Milani chia sẻ: “Chúng tôi thậm chí bắt đầu nghĩ tới việc sử dụng vật liệu như một công cụ nhằm gắn kết nhiều chất liệu nhựa khác nhau với nhau, đây là một thách thức lớn trong quá trình tái chế nhựa và vật liệu tổng hợp của chúng. Nhiều nhà hóa học và kỹ sư vật liệu composite đang nỗ lực cải thiện vật liệu nhằm gia tăng độ chắc, độ bền của các sản phẩm vật dụng hằng ngày”.

Kết quả nghiên cứu được công bố trên tạp chíKhoa học.

men san xuat biar845461546

Mới đây, các nhà nghiên cứu từ trường Đại học Giang Nam, Trung Quốc đã tìm ra phương pháp giữ bia tươi lâu hơn bằng kỹ thuật di truyền, trong đó, họ sử dụng men bia lager để tạo ra một số hợp chất giúp ngăn chặn tình trạng giảm chất lượng của bia do bảo quản.


Việc bảo quản bằng thùng chứa giúp duy trì chất lượng của bia trong ít nhất vài tuần. Tuy nhiên, trong trường hợp đòi hỏi thực hiện quy trình đóng gói, vận chuyển, lưu trữ… trước khi tiêu thụ thì thao tác bảo quản bia là rất quan trọng. Trên thực tế, nhiều phản ứng hóa học nhất định có thể xảy ra trong toàn bộ quy trình trên, và những yếu tố ảnh hưởng đến tốc độ của phản ứng là ánh sáng và nhiệt độ. Khi đó, chất lượng của bia có thể sẽ giảm đi, bia sẽ có vị nhạt và không hấp dẫn như bia tươi.

Trong nghiên cứu trước đây, các nhà khoa học đã phát hiện ra mối liên quan giữa yếu tố tạo hương vị của bia với sự gia tăng các hợp chất có tên gọi là aldehyt. Hợp chất này được sản xuất trong quá trình lên men, và mức độ hàm lượng của chúng tỉ lệ thuận với thời gian bảo quản bia.

Các nhà khoa học đã nghiên cứu phương pháp cải thiện tình trạng trên và xác định được một phân tử gọi là NADH, được cho là có khả năng tăng cường hoạt động của enzyme cho phép phá vỡ cấu trúc phân tử của hợp chất hữu cơ aldehyd. Vì vậy, trong nghiên cứu mới, các chuyên gia đã thử nghiệm ý tưởng sử dụng nấm men như một công cụ phục vụ cho sản xuất bia bằng kỹ thuật di truyền nhằm tạo ra số lượng lớn các phân tử NADH.

Cụ thể, nhóm đã xác định bốn gen chịu trách nhiệm sản xuất NADH, sau đó, áp dụng kỹ thuật chỉnh sửa nhằm làm tăng mức độ biểu hiện của các gen đó. Kết quả là tạo ra sản phẩm cuối cùng chứa nhiều NADH hơn so với bia được kiểm soát chất lượng.

Kết quả thử nghiệm cho thấy: bia được sản xuất bởi nấm men biến đổi gen chứa hàm lượng acetaldehyde - một trong các aldehyde quan trọng nhất, tồn tại phổ biến trong tự nhiên và được sản xuất trên quy mô lớn trong công nghiệp - ít hơn từ 26,3 đến 47,3% so với bia được ủ bằng men thông thường. Bên cạnh đó, nồng độ của các aldehyd khác giảm trong khi có sự gia tăng hàm lượng của lưu huỳnh điôxít, một chất chống oxy hóa được biết đến với vai trò là chất bảo quản với khả năng giúp ngăn chặn hoặc hạn chế tình trạng giảm chất lượng của bia do bảo quản.

Quan trọng hơn, nhóm nghiên cứu cũng phát hiện ra rằng các thành phần tạo nên hương vị và mùi thơm của bia thay đổi không đáng kể. Điều này được xem là tin tốt cho những người sành bia.

Các nhà khoa học nhấn mạnh rằng loại men biến đổi gen này có thể giúp cải thiện thời hạn sử dụng của bia và là yếu tố đảm bảo mùi, vị của bia trong thời gian dài hơn.

Nghiên cứu được công bố trên tạp chíHóa học Nông nghiệp và Thực phẩm.

lu tru du lieu thuong ngay g45645646

Các nhà nghiên cứu tại Viện Công nghệ liên bang Thụy Sỹ (ETH Zurich) đã hợp tác với một nhà khoa học Israel để phát triển một phương tiện lưu trữ thông tin rộng rãi trong hầu hết mọi đồ vật. “Với phương pháp này, chúng ta có thể tích hợp các hướng dẫn in 3D vào một vật thể để sau nhiều thập kỷ hoặc thậm chí hàng thế kỷ, sẽ có thể thu thập những chỉ dẫn đó trực tiếp từ chính vật thể này", GS. Robert Grass, đồng tác giả nghiên cứu giải thích. Cách lưu trữ thông tin này giống như các sinh vật sống là nằm trong các phân tử ADN.


"ADN kết nối vạn vật"
Một số phương pháp đã được phát triển trong vài năm qua làm cho khả năng này trở nên khả thi. Một trong số đó là phương pháp của GS. Grass, đánh dấu các sản phẩm bằng "mã vạch" ADN được nhúng trong các hạt thủy tinh rất nhỏ. Các hạt nano này có nhiều cách sử dụng khác nhau, ví dụ làm công cụ thử nghiệm địa chất hoặc đánh dấu thực phẩm chất lượng cao để phân biệt với thực phẩm bị nhái. Mã vạch tương đối ngắn: chỉ là mã 100 bit (100 vị trí chứa "0" hoặc "1"). Công nghệ này hiện đã được công ty phái sinh Haelixa của ETH thương mại hóa.

Bên cạnh đó cũng có thể lưu trữ khối lượng dữ liệu khổng lồ trong ADN. Yaniv Erlich, nhà khoa học máy tính người Israel và là cộng sự của Grass đã đưa ra một phương pháp về mặt lý thuyết cho phép lưu trữ 215.000 terabyte dữ liệu trong một gam ADN. Bản thân GS. Grass có thể lưu trữ toàn bộ album nhạc trong ADN, tương đương với 15 megabyte dữ liệu. Hiện nay, hai nhà khoa học này đã kết hợp những phát minh này vào một hình thức lưu trữ dữ liệu mới, được gọi là "ADN kết nối vạn vật".

So sánh với sinh học
Trong thử nghiệm, các nhà nghiên cứu đã in 3D một con thỏ bằng nhựa có chứa các hướng dẫn (dữ liệu trị giá khoảng 100 kilobyte). Để làm được điều đó, các nhà khoa học đã bổ sung các hạt thủy tinh nhỏ chứa ADN vào nhựa.

Giống như trong sinh học, phương pháp mới này lưu giữ thông tin qua nhiều thế hệ - đặc trưng mà các nhà khoa học đã tạo ra bằng cách lấy các hướng dẫn in từ một phần nhỏ của thỏ và sử dụng chúng để in một bản hoàn toàn mới. Họ có thể lặp lại quá trình này 5 lần, về cơ bản tạo ra thế hệ "cháu chắt" của con thỏ ban đầu.

"Tất cả các hình thức lưu trữ khác đã được biết đến đều có hình dạng cố định: ổ cứng phải trông giống ổ cứng, CD giống như CD. Bạn không thể thay đổi hình dạng mà không bị mất thông tin", Erlich nói. “ADN hiện là phương tiện lưu trữ dữ liệu duy nhất có thể tồn tại dưới dạng chất lỏng, cho phép chúng ta chèn nó vào các vật thể có hình dạng bất kỳ".

Ẩn thông tin
Nhóm nghiên cứu đã sử dụng công nghệ này để lưu trữ một đoạn phim ngắn về kho lưu trữ này (1,4 megabyte) trong các hạt thủy tinh, sau đó họ rót vào thấu kính thông thường. Về lý thuyết, có thể giấu các hạt thủy tinh trong bất kỳ đồ vật nào bằng nhựa, không đạt nhiệt độ quá cao trong quá trình sản xuất. Các loại nhựa này bao gồm epoxit, polyester, polyurethane và silicone.

Đánh dấu thuốc và vật liệu xây dựng
Công nghệ này có thể được áp dụng để đánh dấu thuốc hoặc vật liệu xây dựng như chất kết dính hoặc sơn. Thông tin về chất lượng của chúng có thể được lưu trữ trực tiếp trong thuốc hoặc vật liệu. Có nghĩa là cơ quan giám sát y tế có thể đọc kết quả kiểm tra từ việc kiểm soát chất lượng sản xuất sản phẩm. Ví dụ, trong các tòa nhà, công nhân thực hiện công việc cải tạo có thể tìm ra những sản phẩm nào mà nhà sản xuất sử dụng trong cấu trúc ban đầu.

Phương pháp này hiện vẫn còn tương đối tốn kém. Việc truyền một tệp in 3D giống như tệp được lưu trữ trong ADN của thỏ nhựa mất khoảng 2.000 franc Thụy Sỹ. Bên cạnh đó còn cần một khoản tiền lớn dành cho việc tổng hợp các phân tử ADN tương ứng.

Tìm kiếm...

Thông báo mới

Quyết định số 19/QĐ-SKHCN ngày 31/01/2018 về việc ban hành quy chế làm việc của Sở Khoa học và Công nghệ


Thông báo tuyển dụng lao động hợp đồng theo Nghị định số 68/2000/NĐ-CP ngày 17/11/2000 của Chính Phủ


Quyết định 23/2015/QĐ-UBND ngày 13/8/2015 của UBND tỉnh Hòa Bình về việc ban hành quy định vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Hòa Bình


Quyết định về việc công bố thủ tục hành chính đã chuẩn hóa thuôc phạm vi chức năng quản lý của Sở Khoa học và Công nghệ Hòa Bình


Quy định cơ chế tự chủ của tổ chức KH&CN công lập. Nghị định số 54/2016/NĐ-CP


Quyết định số 19/QĐ-SKHCN ngày 31/01/2018 về việc ban hành quy chế làm việc của Sở Khoa học và Công nghệ


Thông báo tuyển dụng lao động hợp đồng theo Nghị định số 68/2000/NĐ-CP ngày 17/11/2000 của Chính Phủ


Quyết định 23/2015/QĐ-UBND ngày 13/8/2015 của UBND tỉnh Hòa Bình về việc ban hành quy định vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Hòa Bình


Quyết định về việc công bố thủ tục hành chính đã chuẩn hóa thuôc phạm vi chức năng quản lý của Sở Khoa học và Công nghệ Hòa Bình


Quy định cơ chế tự chủ của tổ chức KH&CN công lập. Nghị định số 54/2016/NĐ-CP


Quyết định số 19/QĐ-SKHCN ngày 31/01/2018 về việc ban hành quy chế làm việc của Sở Khoa học và Công nghệ


Thông báo tuyển dụng lao động hợp đồng theo Nghị định số 68/2000/NĐ-CP ngày 17/11/2000 của Chính Phủ


Quyết định 23/2015/QĐ-UBND ngày 13/8/2015 của UBND tỉnh Hòa Bình về việc ban hành quy định vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Hòa Bình


Quyết định về việc công bố thủ tục hành chính đã chuẩn hóa thuôc phạm vi chức năng quản lý của Sở Khoa học và Công nghệ Hòa Bình


Quy định cơ chế tự chủ của tổ chức KH&CN công lập. Nghị định số 54/2016/NĐ-CP


Quyết định số 19/QĐ-SKHCN ngày 31/01/2018 về việc ban hành quy chế làm việc của Sở Khoa học và Công nghệ


Thông báo tuyển dụng lao động hợp đồng theo Nghị định số 68/2000/NĐ-CP ngày 17/11/2000 của Chính Phủ


Quyết định 23/2015/QĐ-UBND ngày 13/8/2015 của UBND tỉnh Hòa Bình về việc ban hành quy định vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Hòa Bình


Quyết định về việc công bố thủ tục hành chính đã chuẩn hóa thuôc phạm vi chức năng quản lý của Sở Khoa học và Công nghệ Hòa Bình


Quy định cơ chế tự chủ của tổ chức KH&CN công lập. Nghị định số 54/2016/NĐ-CP


Quyết định số 19/QĐ-SKHCN ngày 31/01/2018 về việc ban hành quy chế làm việc của Sở Khoa học và Công nghệ


Thông báo tuyển dụng lao động hợp đồng theo Nghị định số 68/2000/NĐ-CP ngày 17/11/2000 của Chính Phủ


Quyết định 23/2015/QĐ-UBND ngày 13/8/2015 của UBND tỉnh Hòa Bình về việc ban hành quy định vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Hòa Bình


Quyết định về việc công bố thủ tục hành chính đã chuẩn hóa thuôc phạm vi chức năng quản lý của Sở Khoa học và Công nghệ Hòa Bình


Quy định cơ chế tự chủ của tổ chức KH&CN công lập. Nghị định số 54/2016/NĐ-CP


Quyết định số 19/QĐ-SKHCN ngày 31/01/2018 về việc ban hành quy chế làm việc của Sở Khoa học và Công nghệ


Thông báo tuyển dụng lao động hợp đồng theo Nghị định số 68/2000/NĐ-CP ngày 17/11/2000 của Chính Phủ


Quyết định 23/2015/QĐ-UBND ngày 13/8/2015 của UBND tỉnh Hòa Bình về việc ban hành quy định vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Hòa Bình


Quyết định về việc công bố thủ tục hành chính đã chuẩn hóa thuôc phạm vi chức năng quản lý của Sở Khoa học và Công nghệ Hòa Bình


Quy định cơ chế tự chủ của tổ chức KH&CN công lập. Nghị định số 54/2016/NĐ-CP


Quyết định số 19/QĐ-SKHCN ngày 31/01/2018 về việc ban hành quy chế làm việc của Sở Khoa học và Công nghệ


Thông báo tuyển dụng lao động hợp đồng theo Nghị định số 68/2000/NĐ-CP ngày 17/11/2000 của Chính Phủ


Quyết định 23/2015/QĐ-UBND ngày 13/8/2015 của UBND tỉnh Hòa Bình về việc ban hành quy định vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Hòa Bình


Quyết định về việc công bố thủ tục hành chính đã chuẩn hóa thuôc phạm vi chức năng quản lý của Sở Khoa học và Công nghệ Hòa Bình


Quy định cơ chế tự chủ của tổ chức KH&CN công lập. Nghị định số 54/2016/NĐ-CP


Quyết định số 19/QĐ-SKHCN ngày 31/01/2018 về việc ban hành quy chế làm việc của Sở Khoa học và Công nghệ


Thông báo tuyển dụng lao động hợp đồng theo Nghị định số 68/2000/NĐ-CP ngày 17/11/2000 của Chính Phủ


Quyết định 23/2015/QĐ-UBND ngày 13/8/2015 của UBND tỉnh Hòa Bình về việc ban hành quy định vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Hòa Bình


Quyết định về việc công bố thủ tục hành chính đã chuẩn hóa thuôc phạm vi chức năng quản lý của Sở Khoa học và Công nghệ Hòa Bình


Quy định cơ chế tự chủ của tổ chức KH&CN công lập. Nghị định số 54/2016/NĐ-CP



Dan hoi GD So tra loi
bkhcn
DCS-VN chinh-phu
tap chi KHCN Báo Khoa học & Phát triển
NASATI Varans
Dich vu hanh chinh cong

Thống kê truy cập

1700088
Hôm nay
Hôm qua
Tuần này
Tuần trước
Tháng này
Tháng trước
Tất cả các ngày
805
1434
9697
1680103
29887
31566
1700088

Your IP: 3.234.245.121
2020-02-21 15:10