Banner 1222x465 2

DO LUONG

232323232

DOLUONG

QUYPHAT

Banner 06

Untitled333333333
THUVIENKHCN
cam cao phong
Untitled2
Web hosting
pctn77845

Nhiều nghiên cứu dựa vào số liệu đo trực tiếp trong những năm gần đây đã chỉ ra rằng các đại dương đang mất oxy. Vì nước có thể hòa tan ít oxy hơn khi nhiệt độ tăng, nên các kết quả này không gây ngạc nhiên. Ngoài nóng lên toàn cầu, các yếu tố như tình trạng phú dưỡng của các vùng ven biển cũng góp phần vào quá trình khử oxy đang diễn ra.

dai duong

Liệu các đại dương có cạn kiệt hoàn toàn oxy tại một thời điểm nào đó trong tương lai nếu xu hướng nóng lên toàn cầu vẫn tiếp diễn? Các giai đoạn thiếu oxy thực sự đã xuất hiện nhiều lần trong lịch sử Trái đất, cùng với các sự kiện tuyệt chủng hàng loạt. Trong các giai đoạn đó có sự kết hợp của nồng độ CO2 cao trong khí quyển và nhiệt độ toàn cầu tăng.

Mới đây, các nhà khoa học tại Trung tâm nghiên cứu đại dương GEOMAR Helmholtz đã công bố các mô phỏng mô hình sự gia tăng hàm lượng oxy trong các đại dương đến năm 8000 trên tạp chí quốc tế Nature Communications. Trong kịch bản đó, giả thuyết được đưa ra là phần lớn tài nguyên hóa thạch sẽ bị đốt cháy, lượng khí thải sinh ra sẽ tiếp tục tăng lên vào cuối thế kỷ này và sau đó giảm xuống ngưỡng 0 vào năm 2300. Trong mô hình, nhiệt độ hành tinh tăng thêm 6 độ C và duy trì ở mức cao đó cho đến khi kết thúc mô phỏng.

Kết quả đáng ngạc nhiên liên quan đến hàm lượng oxy của đại dương: Sau khi giảm trong vòng vài trăm năm, lượng oxy của đại dương tăng trở lại và thậm chí đạt mức cao hơn trước thời kỳ công nghiệp hóa chỉ trong vòng gần 4000 năm. Thoạt nhìn sẽ thấy nghịch lý là dù theo dự báo các vùng thiếu oxy hiện có trong các đại dương trên thế giới sẽ mở rộng, nhưng mô hình này lại làm tăng lượng oxy một cách bất ngờ khi nhiệt độ toàn cầu tăng.

Kết quả điều tra của Trung tâm nghiên cứu hợp tác Kiel 754 cho thấy các khu vực nghèo oxy là những vùng chết gây ảnh hưởng đến các sinh vật cỡ lớn như cá hoặc động vật chân đầu. Tuy nhiên, một số vi khuẩn nhất định hít thở nitrat thay cho oxy lại sinh trưởng rất tốt ở đó. GS. Oschlies, đồng tác giả nghiên cứu giải thích: "Một số vi khuẩn lấy năng lượng từ quá trình hóa học mà chúng ta gọi là khử nitrat. Đây là thành phần quan trọng của chu trình nitơ, dẫn đến oxy được tiêu thụ trong quá trình hô hấp của vật chất hữu cơ ít hơn so với quá trình quang hợp".

Trong mô phỏng mô hình mới, lần đầu tiên các nhà nghiên cứu đã liên tục kết hợp chu trình oxy với chu trình nitơ trong các mô phỏng toàn cầu dài hạn. Các nhà nghiên cứu nhận thấy do các vùng thiếu oxy được mở rộng, nên ngày càng có nhiều vật chất hữu cơ không được hô hấp bằng oxy mà thay thế bằng nitrat thông qua quá trình khử nitrat.

Sau vài nghìn năm, lượng oxy không được dùng đến sẽ nhiều hơn lượng oxy mất đi trong các đại dương do nóng lên toàn cầu. Tuy nhiên, vấn đề mới nảy sinh là: các giai đoạn thiếu oxy đã từng xảy ra trong lịch sử Trái đất trong điều kiện khí hậu ấm áp thậm chí khó giải thích hơn bằng những phát hiện mới. Rõ ràng có các yếu tố và quá trình phản hồi trong các tương tác phức tạp giữa các quá trình sinh học, vật lý và hóa học dưới đại dương vẫn chưa được tìm hiểu đầy đủ.

Nói về ý nghĩa của nghiên cứu, Andreas Oschlies, một trong các tác giả nghiên cứu cho rằng: "Đây là lý do nghiên cứu này cũng quan trọng vào thời điểm hiện nay. Nghiên cứu chỉ ra những lỗ hổng kiến thức như sự tương tác giữa khử nitơ và cố định đạm, cũng có thể có liên quan đến những thay đổi đang diễn ra dưới đại dương".

Nguồn: http://www.vista.gov.vn

Phương pháp địa vật lý trong điều tra địa chất khoáng sản, trong đó có trọng lực đã được đề cập đến, tuy nhiên tài liệu trọng lực sử dụng là các số liệu đo tương đối, độ chính xác tương ứng với yêu cầu thành lập bản đồ dị thường ở các tỷ lệ 1/10.000, 1/50.000 hoặc nhỏ hơn. Đối với khoáng sản rắn ẩn sâu, thân quặng nhỏ, đòi hỏi các máy đo trọng lực phải có độ chính xác cao hơn, mật độ điểm hợp lý hơn và địa hình phải chi tiết hơn... Đây là những điều kiện để cần thiết trong xác định thân quặng, đánh giá trữ lượng, phân bố vật chất trong lòng đất. Đây là lần đầu tiên, Việt Nam có bộ thiết bị đo trọng lực tuyệt đối hiện đại, việc nghiên cứu tìm hiểu, vận hành và đặc biệt là phát triển các ứng dụng không những trong lĩnh vực đo đạc bản đồ mà còn trong các lĩnh vực khác, như địa chất khoáng sản, tài nguyên nước...

may do

Với những yêu cầu đặt ra như vậy, từ năm 2014 đến 2017, nhóm nghiên cứu tại Viện Khoa học đo đạc và bản đồ đã thực hiện đề tài: “Nghiên cứu ứng dụng đo trọng lực bằng máy FG5x phục vụ điều tra, đánh giá nước dưới đất và một số khoáng sản rắn ở Việt Nam”. Đề tài này sẽ nghiên cứu cơ sở khoa học về quan hệ giữa trọng lực trong điều tra, đánh giá khoáng sản và thứ hai là nghiên cứu quan hệ giữa biến thiên trọng lực theo thời gian để đánh giá động thái và trữ lượng nước ngầm, từ đó có thể sử dụng các phép đo trọng lực tuyệt đối độc lập để giám sát biến thiên mực nước ngầm ở những khu vực không có giếng quan trắc.

Đề tài thu được một số kết quả sau:
1) Khi nghiên cứu về cơ sở trọng lực có thể thấy rằng “trọng lực trắc địa” cũng cần phải được phổ biến kiến thức nhiều hơn nữa nhằm làm sâu sắc các vấn đề về vật lý trái đất, mà trong trắc địa cao cấp khi nghiên cứu về hình dạng trái đất (Geoid) rất cần thiết.
2) Qua nghiên cứu của đề tài đã khẳng định việc làm chủ thiết bị công nghệ trong đo đạc trọng lực tuyệt đối bằng FG5x của các cán bộ Viện khoa học Đo đạc và Bản đồ.
Là một hệ thống thiết bị đắt tiền, nhạy cảm với môi trường nhiệt đới ẩm như Việt Nam, trong thời gian thử nghiệm đề tài đã kiến nghị Viện cho chế tạo thêm buồng bảo ôn để bảo quản khi đưa máy ra khỏi phòng thí nghiệm Đến nay nhiều cán bộ tham gia đề tài đã vận hành thiết bị FG5x thông thạo. Phần xử lý dữ liệu đã được chuyển giao và tính toàn thông suốt. Đề tài đã xây dựng được quy trình đo, vận hành và bảo quản FG5x trong điều kiện Việt Nam.
3) Công tác thăm dò trọng lực đã được nghiên cứu, ứng dụng trong lĩnh vực địa chất - khoáng sản. Công tác trọng lực thường được kết hơp với các phương pháp địa vật lý khác đề thăm dò khoáng sản, nghiên cứu các cấu trúc địa chất và đã được đánh giá là hiệu quả. Trong nhiều năm qua thăm dò trọng lực thường được nghiên cứu ứng dụng cho nhiều nhóm khoáng sản khác nhau, như nhóm VLXD, dầu khí, than... tuy nhiên đối với khoáng sản rắn ẩn sâu, thân quặng nhỏ, hình dạng phân bố phức tạp... chưa được nghiên cứu đầy đủ. Bên cạnh đó chúng ta chưa có thiết bị đo trọng lực độ chính xác cao trong đo trọng lực điểm tựa và điểm quan sát khi thành lập các bản đồ dị thường ở các tỷ lệ 1/5000, 1/2000, 1/1000. Trong nghiên cứu này đã thử nghiệm khi sử dụng FG5x đo điểm tựa với độ chính xác 5μGal, điểm thường đo với độ chính xác 20μGal (0,02mGal) và chỉ cần mô hình số độ cao DEM của khu vực sử dụng độ cao GPS khi đo tọa độ các điểm thường bằng GPS hoàn toàn đáp ứng được yêu cầu khi cải chính địa hình, bên cạnh đó mật độ điểm thường khi đo theo tuyến tương ứng với tỷ lệ 1/5000 là 100m (giảm hơn so với quy định hiện hành là 50m/điểm). Kết quả này đã được kiểm nghiệm khi so sánh với tài liệu trọng lực khi thăm dò mỏ sắt Thạch Khê, Hà Tĩnh.
4) Công tác điều tra, đánh giá tài nguyên nước dưới đất là một nhiệm vụ phức tạp đòi hỏi nhiều đến hạ tầng kỹ thuật, mạng lưới các trạm quan trắc, hệ thống thu nhận và xử lý dữ liệu, tính toán và công bố dữ liệu... nhiều khu vực đã được quy hoạch xây dựng các trạm quan trắc đầy đủ và cung cấp đầy đủ các thông tin về mô hình nước dưới đất,tính toán trữ lượng (tự nhiên và khai thác), nhưng nhiều khu vực, vùng miền chưa có điều kiện hoặc không thể xây dựng mạng lưới giếng đo mực nước dưới đất được, dẫn đến công tác điều tra, giám sát tài nguyên nước dưới đất gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là nhiều khu vực không thể đánh giá động thái nước dưới đất... thì trong nghiên cứu này đã chỉ ra một quan hệ được gọi là “Hiệu ứng trọng lực - thủy văn”. Khi đo lặp trọng lực tại một vị trí trong một khoáng thời gian nhất định thì sự biến thiên giữa 2 lần đo sau khi cải chính các ảnh hưởng sẽ còn lại là tác động của biến thiên mực nước ngầm mà hình thành sự biến thiên trọng lực. Qua nghiên cứu, đề tài đã đề xuất quy trình đo trọng lực tuyệt đối bằng FG5x trong điều tra, đánh giá tài nguyên nước dưới đất, với một phạm vi hẹp là Đánh giá động thái nước dưới đất bằng đo lặp trọng lực.

Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần cho các đơn vị trong Viện khoa học đo đạc và bản đồ có thể vận hành sử dụng FG5x một cách thông suốt. Đối với các đơn vị thực hiện điều tra tài nguyên nước ngầm, đơn vị thăm dò khoáng sản rắn có thể bổ sung vào các phương pháp điều tra cơ bản một giải pháp công nghệ mới với nguồn dữ liệu được đo đạc với độ chính xác cao hơn.

Có thể tìm đọc toàn văn Báo cáo kết quả nghiên cứu của Đề tài (Mã số 13605/2017) tại Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia.

 

Nguồn: http://www.vista.gov.vn

Đây là chủ đề của Hội thảo quốc tế “Khoa học và công nghệ thủy lợi gắn với an ninh nguồn nước, giảm nhẹ thiên tai và thích ứng với biến đổi khí hậu” do Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam (VAWR) tổ chức vào ngày 5/11/2019 tại Hà Nội. Hội thảo là một trong những hoạt động hướng tới kỷ niệm 60 năm ngày thành lập Viện (1959-2019).

Tham dự Hội thảo có Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Nguyễn Hoàng Hiệp, Giám đốc Quốc gia Ngân hàng Thế giới (WB) tại Việt Nam Ousmane Dione, Chủ tịch Hiệp hội tư vấn phát triển nông nghiệp Nhật Bản (ADCA) Shozo OHIRA, Giám đốc Trung tâm Phòng chống thiên tai châu Á Peeranan Towashiraporn, Chủ nhiệm Chương trình khoa học và công nghệ phục vụ xây dựng nông thôn mới Nguyễn Tuấn Anh cùng đại diện JICA, GIZ, Đại học Khoa học ứng dụng TH Koln (Đức), Ủy ban sông Mê Kông, Nippon Steel, Kitai Sekkei, các thành viên trong cộng đồng ASEAN...
Phát biểu khai mạc Hội thảo, PGS.TS Nguyễn Vũ Việt - Giám đốc VAWR đã gửi lời chào mừng đến các đại biểu tham dự Hội thảo và cho biết nhân dịp chuẩn bị kỷ niệm 60 năm thành lập VAWR, được sự đồng ý của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, VAWR phối hợp với ADCA và các đối tác quốc tế tổ chức Hội thảo quốc tế “Khoa học và công nghệ thủy lợi gắn với an ninh nguồn nước giảm nhẹ thiên tai và thích ứng biến đổi khí hậu”. Hội thảo này là cơ hội để các nhà khoa học, nhà quản lý Việt Nam và quốc tế thảo luận, chia sẻ những thành tựu, kết quả khoa học của các dự án tiêu biểu trong các lĩnh vực quản lý, khai thác và phát triển bền vững nguồn nước; giải pháp công trình và phi công trình trong phòng chống thiên tai; xây dựng, quản lý và vận hành các công trình thủy lợi thích ứng với biến đổi khí hậu hướng tới mục tiêu “Bảo tồn nước - cải thiện chất lượng dịch vụ - nâng cao năng lực thích ứng và khả năng phục hồi”. PGS.TS Nguyễn Vũ Việt mong muốn Hội thảo này sẽ thúc đẩy thảo luận và tạo nền tảng thông tin có ý nghĩa cho việc trao đổi giữa các cơ quan, tổ chức trong và ngoài nước về các hoạt động nghiên cứu trong tương lai phục vụ nhu cầu của ngành, xã hội để đạt được các mục tiêu phát triển của Việt Nam nói chung.
Theo các đại biểu, cộng đồng các nước ASEAN đang có nhiều thời cơ nhưng cũng đang đứng trước nhiều thách thức đối với yêu cầu phát triển. Với dân số hơn 640 triệu người và diện tích hơn 1,7 triệu km2, ASEAN là một thị trường nhiều tiềm năng với dự báo đến năm 2050, ASEAN sẽ là nền kinh tế lớn thứ tư thế giới. Tuy nhiên, mục tiêu này cũng đặt chúng ta đứng trước những thách thức về khủng hoảng nguồn nước do sự gia tăng dân số, quá trình đô thị hóa, ô nhiễm nguồn nước, trong khi nhu cầu sử dụng nước tăng nhanh một cách đáng kể. Bên cạnh đó, biến đổi khí hậu và thời tiết cực đoan làm cho thiên tai ngày càng khó dự báo với những diễn biến bất thường, thậm chí chưa từng xảy ra trong lịch sử. Do vậy, đòi hỏi mỗi quốc gia và cộng đồng ASEAN cùng với các đối tác hỗ trợ như Nhật Bản, WB… cùng nhau xây dựng chiến lược chung để bảo tồn và phát triển nguồn nước, nâng cao hiệu quả và giá trị sử dụng nước, bền vững về môi trường, đồng thời nâng cao năng lực và khả năng chống chịu trước thiên tai vì mục tiêu phát triển bền vững. Trong đó, người dân phải được đặt vào trung tâm trong quá trình xây dựng cộng đồng ASEAN. Các quyền lợi của người dân cần được thúc đẩy thông qua hoạt động hợp tác ứng phó biến đổi khí hậu, thiên tai, sử dụng tài nguyên nước hiệu quả, bền vững…
Phát biểu tại Hội thảo, Giám đốc Quốc gia WB tại Việt Nam Ousmane Dione cho hay nước là vấn đề rất đặc thù. Các dịch vụ cấp nước và vệ sinh môi trường, ngập lụt và nước tưới tác động trực tiếp đến cuộc sống hàng ngày của người dân bình thường. Cải thiện năng suất sử dụng nước (đặc biệt trong nông nghiệp), giảm ô nhiễm nước (đặc biệt là nước thải đô thị) và thúc đẩy thích ứng với biến đổi khí hậu là những vấn đề nổi bật và quan trọng đối với Việt Nam. Hơn nữa, các nghiên cứu gần đây của chúng tôi kết luận rằng các mối đe dọa liên quan đến nước tăng có thể làm giảm GDP khoảng 6% mỗi năm. Còn theo ông Shozo OHIRA - Chủ tịch ADCA, chúng ta đang phải đối mặt với các vấn đề mới nổi lên hiện nay như suy thoái nguồn nước, khan hiếm nước và cường độ mưa lớn, biến đổi khí hậu, công trình thủy lợi xuống cấp, tăng chi phí quản lý, ngân sách hạn chế, yêu cầu hiện đại hóa từ các lĩnh vực khác và Luật Thủy lợi mới có hiệu lực ở Việt Nam. Để xử lý các vấn đề trên cần theo dõi dữ liệu kịp thời và phản hồi nhanh giúp quản lý tưới kịp thời và hiệu quả.

CT

Nguồn http://vjst.vn/vn

Hợp tác quốc tế trong KH&CN là phương thức hoạt động ngoại giao hiệu quả, phù hợp xu thế và mang lại lợi ích cho các bên tham gia. Đây là quan điểm được ông Mitsunobu Kano (Cố vấn chính về KH&CN của Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Nhật Bản) chia sẻ trong buổi làm việc với Thứ trưởng Bộ KH&CN Phạm Công Tạc, ngày 14/11/2019.

Theo ông Mitsunobu Kano, trong bối cảnh diễn biến tích cực của toàn cầu hóa và sự gia tăng nhanh chóng về mức độ tác động và phụ thuộc lẫn nhau của các nước trên thế giới, vai trò của KH&CN đã trở nên quan trọng hơn bao giờ hết trong việc giải quyết các vấn đề toàn cầu. Chính vì vậy, trong những năm gần đây, Nhật Bản đặc biệt quan tâm đến KH&CN trong hoạt động ngoại giao và mong muốn lắng nghe quan điểm cũng như định hướng của Việt Nam đối với vấn đề này. Bên cạnh đó, ông Mitsunobu Kano cũng mong muốn tìm hiểu về các chính sách KH&CN của Việt Nam, đặc biệt là quá trình thực hiện Luật KH&CN 2013.
Chia sẻ về các vấn đề mà ông Mitsunobu Kano quan tâm, Thứ trưởng Phạm Công Tạc cùng các cộng sự cho biết, KH&CN Việt Nam đi sau Nhật Bản rất lâu, khi Nhật Bản đã mở cửa với các nước phương Tây, Việt Nam vẫn đang là nước thuộc địa. Chính vì vậy, sau này khi xây dựng Luật KH&CN lần đầu tiên, Việt Nam đã tham khảo và học hỏi các nước đi trước, đặc biệt là các nước ở vùng Đông Bắc Á, trong đó có Nhật Bản. Luật KH&CN 2013 mang đậm tinh thần đổi mới, thể hiện trên các mặt: tăng chi cho KH&CN (2% ngân sách nhà nước), cơ chế sử dụng dựa trên sự cạnh tranh bình đẳng; xóa bỏ cơ chế quan liêu, thực hiện khoản khi đến sản phẩm cuối cùng; trao quyền sở hữu kết quả KH&CN cho các đơn vị chủ trì; trao quyền tối đa gắn với trách nhiệm cho các tổ chức KH&CN công lập... Những đổi mới này đang tác động tích cực đến phát triển và sự đóng góp của KH&CN đối với kinh tế đất nước.

hoptac 2quoc te 7846

Về hoạt động hợp tác quốc tế, chủ trương của Bộ KH&CN là “tăng cường kết nối” không chỉ với cơ quan trung ương mà cả địa phương, các cá nhân nhà khoa học theo mọi phương thức đa phương, song phương, chuyên ngành; khuyến khích sự chia sẻ của các chuyên gia trong và ngoài nước; chủ động tài trợ các nghiên cứu chung giữa Việt Nam với các đối tác nước ngoài... Do đó, Việt Nam luôn mong muốn đẩy mạnh hợp tác với Nhật Bản và mong muốn các nhà khoa học giữa 2 nước sẽ có nhiều hơn các nghiên cứu chung.
Ông Mitsunobu Kano cảm ơn các thông tin chi tiết mà phía Việt Nam cung cấp. Ông cho biết đây sẽ là những thông tin cơ sở và quan trọng giúp ông đưa ra các tư vấn tốt hơn cho hợp tác KH&CN giữa hai nước trong thời gian tới. Ông Mitsunobu Kano cũng cho biết, phía Nhật Bản đang tích cực chuẩn bị cho cuộc họp của Ủy ban hỗn hợp Việt Nam - Nhật Bản về hợp tác KH&CN sẽ được tổ chức vào tháng 3 năm sau tại Nhật Bản.
Tin, ảnh: MN

Nhóm nghiên cứu tại Viện Kỹ thuật nhiệt đới do Trịnh Anh Trúc làm chủ nhiệm, đã thực hiện đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của chất pha tạp đến tính chất cơ lý và bảo vệ chống ăn mòn của màng epoxy polyme nanocompozit chứa oxit sắt từ có pha tạp” trong thời gian từ năm 2011 đến 2015.

hien vi

Mục tiêu của đề tài là nghiên cứu tổng hợp nano oxit sắt từ và oxit sắt từ pha tạp với các nguyên tố kẽm, coban hoặc các chất hữu cơ nhằm tạo ra chất ức chế ăn mòn mới hiệu quả và thân thiện môi trường sử dụng cho sơn bảo vệ chống ăn mòn.

Đã tổng hợp thành công nano oxit sắt từ và nano oxit sắt từ pha tạp với kẽm và coban, các kết quả phân tích cho thấy thành phẩm thu được tinh khiết, có kích thước dưới 60nm. Các nano oxit sắt từ cũng được hữu cơ hóa với hợp chất silan N-(2-aminoethyl-3-aminopropyl) trimethoxysilan và chất ức chế ăn mòn hữu cơ.

Khảo sát tính chất cơ lý và tính chất điện hóa của màng sơn epoxy chứa nano oxit sắt từ pha tạp Zn và Co ở các hàm lượng pha tạp khác nhau cho thấy sự pha tạp các nguyên tố Co hoặc Zn làm gia tăng khả năng che chắn và khả năng ức chế ăn mòn của nano oxit sắt từ trong lớp phủ epoxy trên nền thép. Sự gia tăng này phụ thuộc vào hàm lượng pha tạp, hàm lượng tối ưu tìm thấy là 2,5 % đối với pha tạp Co và 7,5% đối với pha tạp kẽm. Các tính chất cơ lý như độ bám dính, độ bền va đập cũng được cải thiện khi pha tạp với Co hoặc Zn. Các kết quả phân tích nhiệt DSC/TGA màng sơn cho thấy thêm nano oxit sắt từ vào màng epoxy làm gia cường cấu trúc của mạng lưới polyme và tăng khả năng chịu nhiệt, đặc biệt đối với lớp phủ epoxy chứa oxit sắt từ pha tạp Co.

Khảo sát khả năng bảo vệ chống ăn mòn của lớp phủ epoxy chứa oxit sắt từ biến tính với các chất silan và chất ức chế ăn mòn hữu cơ cho thấy hữu cơ hóa bề mặt nano oxit sắt từ không làm gia tăng khả năng che chắn của màng sơn epoxy. Các kết quả đo tổng trở điện hóa cục bộ chứng minh hoạt động của nano oxit sắt từ và nano oxit sắt từ biến tính tại ranh giới màng/bề mặt kim loại, khi kim loại bắt đầu bị ăn mòn. Các số liệu đo bám dính kéo giật, bám dính kẻ ô theo thời gian thử nghiệm trong nước cho thấy sự gia tăng bám dính trong trường hợp màng epoxy chứa nano oxit sắt từ biến tính với chất ức chế hữu cơ, điều đó khẳng định vai trò của các hợp phần nano tại vùng ranh giới màng sơn/bề mặt kim loại. Các số liệu này được khẳng định lại với các phép đo bám dính kéo 3 điểm và thử nghiệm mù muối với khuyết tật nhân tạo.

Có thể tìm đọc toàn văn Báo cáo kết quả nghiên cứu của Đề tài (Mã số 13649/2017) tại Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia.

Nguồn: http://www.vista.gov.vn

Tìm kiếm...

Thông báo mới

Quyết định về việc công bố thủ tục hành chính đã chuẩn hóa thuôc phạm vi chức năng quản lý của Sở Khoa học và Công nghệ Hòa Bình


Quyết định 23/2015/QĐ-UBND ngày 13/8/2015 của UBND tỉnh Hòa Bình về việc ban hành quy định vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Hòa Bình


Thông báo tuyển dụng lao động hợp đồng theo Nghị định số 68/2000/NĐ-CP ngày 17/11/2000 của Chính Phủ


Quy định cơ chế tự chủ của tổ chức KH&CN công lập. Nghị định số 54/2016/NĐ-CP


Quyết định số 19/QĐ-SKHCN ngày 31/01/2018 về việc ban hành quy chế làm việc của Sở Khoa học và Công nghệ


Quyết định về việc công bố thủ tục hành chính đã chuẩn hóa thuôc phạm vi chức năng quản lý của Sở Khoa học và Công nghệ Hòa Bình


Quyết định 23/2015/QĐ-UBND ngày 13/8/2015 của UBND tỉnh Hòa Bình về việc ban hành quy định vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Hòa Bình


Thông báo tuyển dụng lao động hợp đồng theo Nghị định số 68/2000/NĐ-CP ngày 17/11/2000 của Chính Phủ


Quy định cơ chế tự chủ của tổ chức KH&CN công lập. Nghị định số 54/2016/NĐ-CP


Quyết định số 19/QĐ-SKHCN ngày 31/01/2018 về việc ban hành quy chế làm việc của Sở Khoa học và Công nghệ


Quyết định về việc công bố thủ tục hành chính đã chuẩn hóa thuôc phạm vi chức năng quản lý của Sở Khoa học và Công nghệ Hòa Bình


Quyết định 23/2015/QĐ-UBND ngày 13/8/2015 của UBND tỉnh Hòa Bình về việc ban hành quy định vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Hòa Bình


Thông báo tuyển dụng lao động hợp đồng theo Nghị định số 68/2000/NĐ-CP ngày 17/11/2000 của Chính Phủ


Quy định cơ chế tự chủ của tổ chức KH&CN công lập. Nghị định số 54/2016/NĐ-CP


Quyết định số 19/QĐ-SKHCN ngày 31/01/2018 về việc ban hành quy chế làm việc của Sở Khoa học và Công nghệ


Quyết định về việc công bố thủ tục hành chính đã chuẩn hóa thuôc phạm vi chức năng quản lý của Sở Khoa học và Công nghệ Hòa Bình


Quyết định 23/2015/QĐ-UBND ngày 13/8/2015 của UBND tỉnh Hòa Bình về việc ban hành quy định vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Hòa Bình


Thông báo tuyển dụng lao động hợp đồng theo Nghị định số 68/2000/NĐ-CP ngày 17/11/2000 của Chính Phủ


Quy định cơ chế tự chủ của tổ chức KH&CN công lập. Nghị định số 54/2016/NĐ-CP


Quyết định số 19/QĐ-SKHCN ngày 31/01/2018 về việc ban hành quy chế làm việc của Sở Khoa học và Công nghệ


Quyết định về việc công bố thủ tục hành chính đã chuẩn hóa thuôc phạm vi chức năng quản lý của Sở Khoa học và Công nghệ Hòa Bình


Quyết định 23/2015/QĐ-UBND ngày 13/8/2015 của UBND tỉnh Hòa Bình về việc ban hành quy định vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Hòa Bình


Thông báo tuyển dụng lao động hợp đồng theo Nghị định số 68/2000/NĐ-CP ngày 17/11/2000 của Chính Phủ


Quy định cơ chế tự chủ của tổ chức KH&CN công lập. Nghị định số 54/2016/NĐ-CP


Quyết định số 19/QĐ-SKHCN ngày 31/01/2018 về việc ban hành quy chế làm việc của Sở Khoa học và Công nghệ


Quyết định về việc công bố thủ tục hành chính đã chuẩn hóa thuôc phạm vi chức năng quản lý của Sở Khoa học và Công nghệ Hòa Bình


Quyết định 23/2015/QĐ-UBND ngày 13/8/2015 của UBND tỉnh Hòa Bình về việc ban hành quy định vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Hòa Bình


Thông báo tuyển dụng lao động hợp đồng theo Nghị định số 68/2000/NĐ-CP ngày 17/11/2000 của Chính Phủ


Quy định cơ chế tự chủ của tổ chức KH&CN công lập. Nghị định số 54/2016/NĐ-CP


Quyết định số 19/QĐ-SKHCN ngày 31/01/2018 về việc ban hành quy chế làm việc của Sở Khoa học và Công nghệ


Quyết định về việc công bố thủ tục hành chính đã chuẩn hóa thuôc phạm vi chức năng quản lý của Sở Khoa học và Công nghệ Hòa Bình


Quyết định 23/2015/QĐ-UBND ngày 13/8/2015 của UBND tỉnh Hòa Bình về việc ban hành quy định vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Hòa Bình


Thông báo tuyển dụng lao động hợp đồng theo Nghị định số 68/2000/NĐ-CP ngày 17/11/2000 của Chính Phủ


Quy định cơ chế tự chủ của tổ chức KH&CN công lập. Nghị định số 54/2016/NĐ-CP


Quyết định số 19/QĐ-SKHCN ngày 31/01/2018 về việc ban hành quy chế làm việc của Sở Khoa học và Công nghệ


Quyết định về việc công bố thủ tục hành chính đã chuẩn hóa thuôc phạm vi chức năng quản lý của Sở Khoa học và Công nghệ Hòa Bình


Quyết định 23/2015/QĐ-UBND ngày 13/8/2015 của UBND tỉnh Hòa Bình về việc ban hành quy định vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Hòa Bình


Thông báo tuyển dụng lao động hợp đồng theo Nghị định số 68/2000/NĐ-CP ngày 17/11/2000 của Chính Phủ


Quy định cơ chế tự chủ của tổ chức KH&CN công lập. Nghị định số 54/2016/NĐ-CP


Quyết định số 19/QĐ-SKHCN ngày 31/01/2018 về việc ban hành quy chế làm việc của Sở Khoa học và Công nghệ



Dan hoi GD So tra loi
bkhcn
DCS-VN chinh-phu
tap chi KHCN Báo Khoa học & Phát triển
NASATI Varans
Dich vu hanh chinh cong

Thống kê truy cập

1932653
Hôm nay
Hôm qua
Tuần này
Tuần trước
Tháng này
Tháng trước
Tất cả các ngày
724
621
2986
1922851
20332
34604
1932653

Your IP: 34.205.93.2
2020-09-23 20:16