Banner 1222x465 2

DO LUONG

232323232

DOLUONG

QUYPHAT

Banner 06

Untitled333333333
THUVIENKHCN
cam cao phong
Untitled2
Web hosting
pctn77845

Năm 2020, mặc dù bối cảnh thế giới và trong nước có nhiều khó khăn, biến động nhưng số lượng đơn đăng ký chỉ dẫn địa lý được tiếp nhận và giấy chứng nhận đăng ký chỉ dẫn địa lý được cấp đạt mức cao nhất từ trước đến nay.

Theo thông tin từ Cục Sở hữu trí tuệ, trong năm 2020, Cục đã tiếp nhận 22 đơn và cấp 21 giấy chứng nhận đăng ký chỉ dẫn địa lý. Tương tự các năm trước đây, cơ cấu sản phẩm các chỉ dẫn địa lý được cấp Giấy chứng nhận đăng ký trong năm vừa qua không có nhiều thay đổi, chủ yếu vẫn là các sản phẩm nông nghiệp, không có sản phẩm chế biến.

Các sản phẩm được cấp Giấy chứng nhận đăng ký chỉ dẫn địa lý trong năm đều là các sản phẩm tươi sống, trong đó có 06 sản phẩm là hoa quả tươi (sầu riêng Cái Mơn, na dai Lục Nam, thanh long Châu Thành Long An, cam Hàm Yên, bưởi Khả Lĩnh, khóm Cầu Đúc), 03 sản phẩm thủy hải sản (tôm hùm Phú Yên, ba ba Văn Chấn, yến sào Khánh Hòa), còn lại các nông sản khác bao gồm gia vị, động vật tươi sống và gạo (tỏi An Thịnh, tỏi Lý Sơn, thảo quả Vị Xuyên, quế Trà Bồng, vịt Cổ Lũng và gạo Ba Chăm Mang Yang). 

Các tổ chức nộp đơn đăng ký và quản lý các chỉ dẫn địa lý được nộp trong năm 2020 vẫn là các cơ quan hành chính nhà nước bao gồm: Ủy ban nhân dân cấp huyện/ thành phố trực thuộc tỉnh, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và các sở Khoa học và Công nghệ, sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Trong đó Ủy ban nhân dân cấp huyện/ thành phố trực thuộc tỉnh vẫn là tổ chức nộp đơn và quản lý số lượng chỉ dẫn địa lý lớn nhất (với 09 chỉ dẫn địa lý). Điều này cho thấy sự tham gia của các hội nghề nghiệp, các tổ chức sản xuất, kinh doanh sản phẩm chỉ dẫn địa lý vào quá trình xây dựng hồ sơ đăng ký và quản lý chỉ dẫn địa lý vẫn còn rất hạn chế.

Như vậy, tính đến hết năm 2020, Việt Nam đã bảo hộ 94 chỉ dẫn địa lý trong đó có 88 chỉ dẫn địa lý của Việt Nam và 06 chỉ dẫn địa lý của nước ngoài. Và Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – EU (EVFTA) (chính thức được Quốc hội của hai Bên phê chuẩn, có hiệu lực vào ngày 01/08/2020) cũng đã mở ra “cơ hội vàng” cho 39 chỉ dẫn địa lý của Việt Nam khi được chính thức bảo hộ và hưởng các ưu đãi thuế quan trong xuất khẩu tại Liên minh Châu Âu. Đồng thời, theo Hiệp định này, Việt Nam đã bảo hộ thêm 169 chỉ dẫn địa lý của Liên minh châu Âu. Do ảnh hưởng của những khó khăn chung trên toàn thế giới trong năm 2020, các chỉ dẫn địa lý của Việt Nam chưa phát huy được những lợi thế sau khi được bảo hộ tại Liên minh châu Âu.

Vải thiều Bắc Giang là một trong ba nông sản của Việt Nam đang được Cục Sở hữu trí tuệ làm thủ tục, hồ sơ đăng ký chỉ dẫn địa lý vào thị trường Nhật Bản. Ảnh: TTXVN 

Yêu cầu đổi mới phương thức quản lý

Tuy nhiên, để tận dụng hết được những lợi thế mà chỉ dẫn địa lý mang lại, cần có các chính sách thúc đẩy và đổi mới trong phương thức quản lý chỉ dẫn địa lý.

Một mặt, các quy định chính sách bảo hộ chỉ dẫn địa lý cần phù hợp với bản chất của chỉ dẫn địa lý - là tài sản trí tuệ chung của cộng đồng những người sản xuất sản phẩm gắn với khu vực địa lý tương ứng. Mặt khác, các quy định cần phải xác định rõ vai trò của các cơ quan quản lý Nhà nước là điều phối chung nhằm đảm bảo hài hòa lợi ích và công bằng xã hội trong việc xây dựng, đăng ký, quản lý chỉ dẫn địa lý chứ không phải là chủ sở hữu.

Yêu cầu thay đổi này sẽ dẫn tới đòi hỏi phải thúc đẩy sự tham gia của cộng đồng cư dân, các nhà sản xuất sản phẩm vào tiến trình đăng ký quản lý chỉ dẫn địa lý (thay cho tình trạng chủ yếu các cơ quan quản lý nhà nước thực hiện như hiện nay), đưa tiến trình đăng ký chỉ dẫn địa lý về đúng với nhu cầu thực tế của cộng đồng, xã hội. Điều này cũng sẽ đòi hỏi sự thay đổi trong các chương trình hỗ trợ phát triển chỉ dẫn địa lý, đó là cần tập trung vào hoạt động nâng cao năng lực cho các tổ chức tập thể, các tổ chức đại diện cho cộng đồng dân cư, các nhà sản xuất và kinh doanh sản phẩm chỉ dẫn địa lý thay vì hỗ trợ xây dựng hồ sơ đăng ký chỉ dẫn địa lý và thiết lập hệ thống quản lý chỉ dẫn địa lý như hiện nay.

Mặt khác, đối với các chỉ dẫn địa lý đã được bảo hộ, các tổ chức quản lý chỉ dẫn địa lý hiện nay (nhà nước trực tiếp quản lý hoặc trao quyền quản lý CDĐL cho tổ chức đại diện quyền lợi của tất cả các tổ chức, cá nhân được trao quyền sử dụng CDĐL) cần thay đổi phương pháp tiếp cận: hỗ trợ cộng đồng cư dân, các nhà sản xuất thành lập các tổ chức tập thể để quản lý chỉ dẫn địa lý nếu tổ chức tập thể chưa được hình thành; hoặc củng cố, nâng cao năng lực nếu tổ chức tập thể chưa đủ các điều kiện cần thiết để thực hiện vai trò của chủ sở hữu chỉ dẫn địa lý.

Tất cả những đòi hỏi đó đặt ra yêu cầu phải sửa đổi các quy định hiện hành về quản lý chỉ dẫn địa lý. Hiện nay, quá trình sửa đổi các quy định pháp luật về sở hữu trí tuệ trong đó có chỉ dẫn địa lý thuộc Chiến lược sở hữu trí tuệ đến năm 2030 đang được gấp rút hoàn thành. Hi vọng năm 2021 sẽ là năm bản lề đánh dấu sự thay đổi mang tính bước nhảy về chất trong các quy định về tiến trình bảo hộ chỉ dẫn địa lý, từ đó phát huy hơn nữa lợi thế mà chỉ dẫn địa lý mang lại.

Theo Cục Sở hữu trí tuệ, hiện công tác sửa đổi Luật sở hữu trí tuệ đã tính đến những yêu cầu đổi mới trong phương thức quản lý chỉ dẫn địa lý, trong đó chú trọng tới việc “trao quyền” cho cộng đồng những người sản xuất sản phẩm, nhà nước đóng vai trò “điều phối” để hài hòa lợi ích. Cụ thể, đề xuất sửa đổi một số nội dung sau: 

Đề xuất sửa đổi Điều 88 trong đó có nội dung quy định về quyền đăng ký chỉ dẫn địa lý. Theo đó, tổ chức đại diện cho những người sản xuất sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý hoặc cơ quan quản lý hành chính địa phương nơi có chỉ dẫn địa lý có quyền đăng ký chỉ dẫn địa lý này. Người thực hiện quyền đăng ký chỉ dẫn địa lý không trở thành chủ sở hữu chỉ dẫn địa lý đó.

Việc sửa đổi này thay cho quy định cũ quy định rằng quyền đăng ký chỉ dẫn địa lý của Việt Nam thuộc về Nhà nước. Nhà nước cho phép tổ chức, cá nhân sản xuất sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý, tổ chức tập thể đại diện cho các tổ chức, cá nhân đó hoặc cơ quan quản lý hành chính địa phương nơi có chỉ dẫn địa lý thực hiện quyền đăng ký chỉ dẫn địa lý. Người thực hiện quyền đăng ký chỉ dẫn địa lý không trở thành chủ sở hữu chỉ dẫn địa lý đó.

Đề xuất sửa đổi, bổ sung khoản 4 Điều 121. Trong đó, nêu rõ: "Chỉ dẫn địa lý của Việt Nam thuộc sở hữu chung của cộng đồng những người sản xuất sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý ở khu vực nơi có chỉ dẫn địa lý. Tổ chức đại diện cho những người sản xuất sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý thực hiện quyền quản lý chỉ dẫn địa lý được bảo hộ. Chính phủ quy định chi tiết về việc quản lý chỉ dẫn địa lý và hướng dẫn việc thực hiện quyền quản lý chỉ dẫn địa lý của tổ chức quản lý chỉ dẫn địa lý."

Việc sửa đổi này thay cho quy định cũ quy định chủ sở hữu chỉ dẫn địa lý của Việt Nam là Nhà nước. Nhà nước trao quyền sử dụng chỉ dẫn địa lý cho tổ chức, cá nhân tiến hành việc sản xuất sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý tại địa phương tương ứng và đưa sản phẩm đó ra thị trường. Nhà nước trực tiếp thực hiện quyền quản lý chỉ dẫn địa lý hoặc trao quyền quản lý chỉ dẫn địa lý cho tổ chức đại diện quyền lợi của tất cả các tổ chức, cá nhân được trao quyền sử dụng chỉ dẫn địa lý.

(Trích Dự thảo luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ số 50/2005/QH11 ngày 29 tháng 11 năm 2005).

Nguồn: most.gov.vn

(HBĐT) - Những năm gần đây, nhận thức của doanh nghiệp về vai trò của khoa học, công nghệ (KHCN) đối với sản xuất có bước chuyển đáng kể. Một số doanh nghiệp đã ưu tiên đầu tư, tiếp thu, ứng dụng các thành tựu KHCN hiện đại vào sản xuất, đổi mới máy móc, thiết bị, công nghệ, tạo bước tiến mới nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng năng suất lao động và sức cạnh tranh của doanh nghiệp.

dt 2812021166 11

Công ty CP Biopharm Hoà Bình tích cực áp dụng quy trình tiên tiến trong sản xuất, doanh thu hàng năm từ công nghệ đạt hàng tỷ đồng.

Thời gian qua, tỉnh đã triển khai nhiều chương trình hỗ trợ hoạt động đổi mới KHCN của doanh nghiệp trên địa bàn. Cụ thể, đã kết nối cho nhiều doanh nghiệp tiếp cận và tham gia các chương trình cung - cầu công nghệ, giúp nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong tỉnh. Trong quá trình chuyển giao công nghệ, nhiều hoạt động hỗ trợ doanh nghiệp được thực hiện như: Tư vấn công nghệ, thẩm định công nghệ, các vấn đề pháp lý, kết nối nguồn lực tài chính cho doanh nghiệp. Nhiều công nghệ sau khi được chuyển giao phát huy hiệu quả, phục vụ hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, tăng lợi nhuận và khả năng cạnh tranh của sản phẩm hàng hóa. Như Công ty CP Biopharm Hoà Bình đã tự nghiên cứu quy trình công nghệ nhân giống và nuôi trồng nhân sâm..., doanh thu hàng năm từ công nghệ này đạt từ 2,3 - 5 tỷ đồng.
Qua khảo sát các công nghệ được doanh nghiệp sử dụng trên địa bàn tỉnh hiện nay, hơn 40,8% số doanh nghiệp sử dụng máy móc thiết bị quan trọng có nguồn gốc từ Hàn Quốc, 27% từ Trung Quốc, 22,4% từ Việt Nam, 16,9% từ Nhật, 15,2% từ Đài Loan, còn lại là các quốc gia khác.
Đối với các doanh nghiệp công nghệ, hoạt động đầu tư và phát triển của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng, tạo nền tảng cho sự phát triển bền vững của doanh nghiệp. Trong điều kiện ngân sách còn hạn hẹp, việc huy động các nguồn vốn đầu tư cho KHCN từ khu vực doanh nghiệp là giải pháp cần thiết, trong đó, quỹ phát triển KHCN trong doanh nghiệp là một phương thức quan trọng. Từ nguồn quỹ đầu tư cho hoạt động KHCN nhằm nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp thông qua nghiên cứu, ứng dụng, đổi mới công nghệ, đổi mới sản phẩm, hợp lý hoá sản xuất của doanh nghiệp. Trên địa bàn tỉnh hiện có 9 doanh nghiệp được cấp giấy chứng nhận doanh nghiệp KHCN, các doanh nghiệp này đã thành lập quỹ phát triển KHCN.
Bên cạnh những kết quả đạt được, việc đổi mới công nghệ của các doanh nghiệp vẫn còn nhiều vấn đề đáng quan tâm. Máy móc, thiết bị được sử dụng chủ yếu là loại do người điều khiển, tỷ lệ máy móc thiết bị do máy tính điều khiển còn khiêm tốn. Về mặt công nghệ, số liệu điều tra cho thấy, 85% các loại máy móc thiết bị này thuộc loại máy móc thiết bị do người điều khiển, 15% là dạng máy móc do máy tính điều khiển. Hệ thống máy móc thiết bị của các doanh nghiệp sản xuất trong lĩnh vực công nghiệp và xây dựng của tỉnh chưa hiện đại, rất ít công nghệ đến từ các nước phát triển. Tuổi thọ của các máy móc phần lớn đã được sản xuất trên 10 năm, thậm chí có những thiết bị trên 20 năm. Đối với việc điều chỉnh các công nghệ, máy móc thiết bị, chỉ có 14% doanh nghiệp có tiến hành hoạt động này nhằm tăng hiệu quả, giúp máy móc vận hành tốt hơn. Còn lại các doanh nghiệp hầu như không có hoạt động điều chỉnh thiết bị, công nghệ máy móc cho phù hợp với sản xuất. Qua khảo sát, 100% các doanh nghiệp được khảo sát cho biết không có bằng phát minh sáng chế hay không tham gia phối hợp nghiên cứu nào.
Nhằm nâng cao hiệu quả, tăng cường sự đóng góp của KHCN trong tăng trưởng kinh tế, phát triển lĩnh vực mũi nhọn, khâu đột phá trong tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế bền vững, thúc đẩy phát triển KT-XH, thời gian tới, tỉnh tập trung phát triển KH&CN dựa trên nền tảng sẵn có, kết hợp với nền tảng KHCN quốc gia, từ đó nhằm giảm thiểu chi phí, tiết kiệm nguồn lực cho phát triển KHCN của tỉnh. Tạo điều kiện để hoạt động KHCN và các sản phẩm KHCN được chấp nhận, ứng dụng rộng rãi. Khuyến khích các hoạt động đổi mới sáng tạo. Huy động các nguồn lực trong phát triển KHCN, đặc biệt là các nguồn lực từ khu vực kinh tế tư nhân và FDI. Thúc đẩy nhanh lộ trình đổi mới công nghệ. Chuyển giao, làm chủ những công nghệ mới, hỗ trợ nghiên cứu triển khai, cải tiến công nghệ, hoàn thành công nghệ mới phù hợp yêu cầu của tỉnh, tạo ra sản phẩm hàng hoá có khả năng cạnh tranh. Xây dựng, phát triển nguồn lực KHCN đủ mạnh, đảm bảo đủ khả năng tiếp thu, ứng dụng, làm chủ và phát triển công nghệ hiện đại, tiên tiến, đủ sức tổ chức nghiên cứu và giải quyết những nhiệm vụ KHCN trọng điểm của tỉnh. Phấn đấu mức đầu tư cho KHCN tăng dần qua các năm, đạt ít nhất 2% tổng chi ngân sách địa phương vào năm 2025.
Nguồn: baohoabinh.com.vn

Bộ Tài chính vừa ban hành Thông tư số 03/2021/TT-BTC hướng dẫn về miễn thuế, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp đối với doanh nghiệp khoa học và công nghệ quy định tại Nghị định số 13/2019/NĐ-CP của Chính phủ về doanh nghiệp khoa học và công nghệ.

25 Ảnh1

Ảnh minh họa

Thông tư quy định rõ về điều kiện áp dụng. Theo đó, doanh nghiệp khoa học và công nghệ được hưởng ưu đãi miễn thuế, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp theo quy định tại Khoản 1 Điều 12 Nghị định số 13/2019/NĐ-CP ngày 01/02/2019 của Chính phủ phải đáp ứng các điều kiện sau:

Được cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận doanh nghiệp khoa học và công nghệ;

Doanh thu hàng năm từ hoạt động sản xuất, kinh doanh các sản phẩm hình thành từ kết quả khoa học và công nghệ đạt tỷ lệ tối thiểu 30% trên tổng doanh thu hàng năm của doanh nghiệp;

Doanh thu được tạo ra từ dịch vụ có ứng dụng kết quả khoa học và công nghệ trong lĩnh vực công nghệ thông tin là doanh thu từ dịch vụ mới, không bao gồm các dịch vụ đã có trên thị trường;

Doanh nghiệp khoa học và công nghệ phải hạch toán riêng thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh các sản phẩm hình thành từ kết quả khoa học và công nghệ trong kỳ để được hưởng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp. Trường hợp doanh nghiệp không hạch toán riêng được thì thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh các sản phẩm hình thành từ kết quả khoa học và công nghệ được hưởng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp thực hiện phân bổ theo quy định tại Khoản 2 Điều 18 Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp số 14/2008/QH12.

Để được hưởng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp, doanh nghiệp khoa học và công nghệ phải thực hiện chế độ kế toán, hóa đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật và nộp thuế theo kê khai.

Ưu đãi miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp

Theo Thông tư, mức và thời gian ưu đãi miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp như sau:

Doanh nghiệp khoa học và công nghệ được hưởng ưu đãi miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp theo quy định tại Khoản 1 Điều 12 Nghị định số 13/2019/NĐ-CP ngày 01/02/2019 của Chính phủ, cụ thể: được miễn thuế 04 năm và giảm 50% số thuế phải nộp trong 09 năm tiếp theo.

Thời gian miễn thuế, giảm thuế đối với doanh nghiệp khoa học và công nghệ được tính liên tục kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận doanh nghiệp khoa học và công nghệ. Trường hợp không có thu nhập chịu thuế trong ba năm đầu, kể từ năm đầu tiên được cấp Giấy chứng nhận doanh nghiệp khoa học và công nghệ thì năm đầu tiên tính thời gian miễn thuế, giảm thuế được tính từ năm thứ tư.

Trong thời gian đang được ưu đãi miễn thuế, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp, nếu năm nào doanh nghiệp khoa học và công nghệ không đáp ứng điều kiện về doanh thu của các sản phẩm hình thành từ kết quả khoa học và công nghệ đạt tỷ lệ tối thiểu 30% trên tổng doanh thu năm của doanh nghiệp thì năm đó doanh nghiệp khoa học và công nghệ không được hưởng ưu đãi và được tính trừ vào thời gian được hưởng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp của doanh nghiệp khoa học và công nghệ.

Doanh nghiệp khoa học và công nghệ tự xác định số thuế thu nhập doanh nghiệp được ưu đãi và kê khai vào Bảng kê ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp đối với doanh nghiệp khoa học và công nghệ kèm theo Thông tư này. Bảng kê ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp được gửi kèm theo tờ khai quyết toán thuế thu nhập doanh nghiệp hàng năm.

Thông tư này có hiệu lực từ ngày 01/3/2021.

Nguồn: most.gov.vn

Chương trình phát triển sản phẩm khoa học và công nghệ quốc gia đến năm 2030 tập trung vào việc nghiên cứu, ứng dụng công nghệ tiên tiến, thành tựu của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư vào sản xuất, phát triển các sản phẩm quốc gia nhằm tăng năng suất, chất lượng và khả năng cạnh tranh cao.

Sp quoc gia

Đến năm 2030, hình thành và phát triển tối thiểu 10 sản phẩm quốc gia mới.

Nhằm tiếp tục hỗ trợ doanh nghiệp nghiên cứu, phát triển mở rộng quy mô sản xuất, nâng cao chất lượng và khả năng cạnh tranh đối với các sản phẩm quốc gia đã được phê duyệt trong Chương trình phát triển sản phẩm quốc gia đến năm 2020, Thủ tướng Chính phủ vừa có Quyết định số 157/QĐ-TTg về việc ban hành Chương trình phát triển sản phẩm quốc gia đến năm 2030. 

Theo đó, mục tiêu của Chương trình là nghiên cứu, ứng dụng công nghệ tiên tiến, thành tựu của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư vào sản xuất, phát triển các sản phẩm quốc gia nhằm tăng năng suất, chất lượng và khả năng cạnh tranh của sản phẩm quốc gia tại thị trường trong nước và quốc tế. Đến năm 2030, hình thành và phát triển tối thiểu 10 sản phẩm quốc gia mới.

Để đạt được mục tiêu trên, Chương trình đưa ra nhiều nhiệm vụ, giải pháp như: Thực hiện lựa chọn sản phẩm quốc gia từ các sản phẩm trọng điểm, ưu tiên, chủ lực của các ngành, lĩnh vực; Đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng công nghệ mới, công nghệ tiên tiến, phục vụ việc hình thành và phát triển các sản phẩm quốc gia; tư vấn, hỗ trợ xây dựng và phát triển các tổ chức, doanh nghiệp điển hình sản xuất sản phẩm quốc gia; hỗ trợ doanh nghiệp thực hiện hoạt động xây dựng thương hiệu, xúc tiến thương mại, phát triển thị trường sản phẩm quốc gia.

Đồng thời, hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao trình độ của đội ngũ nhân lực nghiên cứu, nhân lực kỹ thuật, nhân lực quản trị doanh nghiệp đủ năng lực ứng dụng, làm chủ các công nghệ cao, công nghệ tiên tiến, kỹ năng quản lý thông qua các hoạt động đào tạo, bồi dưỡng trong quá trình triển khai các nhiệm vụ thuộc Chương trình; hỗ trợ các tổ chức, doanh nghiệp tham gia phát triển, sản xuất sản phẩm quốc gia trong việc nâng cao, đầu tư mới một số trang thiết bị kỹ thuật phục vụ hoạt động đo kiểm, thử nghiệm sản xuất theo quy định pháp luật.

Theo quy định, sản phẩm quốc gia được lựa chọn phát triển đáp ứng các yêu cầu sau: Sản xuất trên cơ sở ứng dụng công nghệ tiên tiến, có khả năng đăng ký bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ; có quy mô lớn, giá trị gia tăng và khả năng cạnh tranh cao, có khả năng thay thế hàng hóa nhập khẩu hoặc mang lại giá trị xuất khẩu, có tác động lan tỏa, tích cực đối với phát triển kinh tế - xã hội hoặc quốc phòng an ninh; phát huy được các lợi thế về nhân lực, tài nguyên và điều kiện tự nhiên của Việt Nam, phù hợp với chiến lược phát triển bền vững của các ngành, lĩnh vực.

Nguồn: most.gov.vn

(Chinhphu.vn) – Đến năm 2030, Việt Nam trở thành trung tâm đổi mới sáng tạo, phát triển các giải pháp và ứng dụng Trí tuệ nhân tạo (TTNT) trong khu vực ASEAN và trên thế giới.

tri tue

Thủ tướng Chính phủ vừa ban hành Chiến lược quốc gia về nghiên cứu, phát triển và ứng dụng TTNT đến năm 2030.

Chiến lược đặt mục tiêu đẩy mạnh nghiên cứu, phát triển và ứng dụng TTNT, đưa TTNT trở thành lĩnh vực công nghệ quan trọng của Việt Nam trong cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Đến năm 2030, Việt Nam trở thành trung tâm đổi mới sáng tạo, phát triển các giải pháp và ứng dụng TTNT trong khu vực ASEAN và trên thế giới.

Mục tiêu đến năm 2030 đưa TTNT trở thành lĩnh vực công nghệ quan trọng của Việt Nam; phấn đấu Việt Nam nằm trong nhóm 4 nước dẫn đầu trong khu vực ASEAN và nhóm 50 nước dẫn đầu trên thế giới về nghiên cứu, phát triển và ứng dụng TTNT; xây dựng được 10 thương hiệu TTNT có uy tín trong khu vực; phát triển được 03 trung tâm quốc gia về lưu trữ dữ liệu lớn và tính toán hiệu năng cao; kết nối được các hệ thống trung tâm dữ liệu, trung tâm tính toán hiệu năng cao trong nước tạo thành mạng lưới chia sẻ năng lực dữ liệu lớn và tính toán phục vụ TTNT.

Hình thành được 50 bộ dữ liệu mở, liên thông và kết nối trong các ngành kinh tế, lĩnh vực kinh tế - xã hội phục vụ nghiên cứu, phát triển và ứng dụng TTNT.

Đến năm 2030, Việt Nam hình thành được 3 trung tâm đổi mới sáng tạo quốc gia về TTNT; có ít nhất 01 đại diện nằm trong bảng xếp hạng nhóm 20 cơ sở nghiên cứu và đào tạo về TTNT dẫn đầu trong khu vực ASEAN…

Để đạt được những mục tiêu trên, Chiến lược đưa ra các định hướng: Xây dựng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và hành lang pháp lý liên quan đến TTNT; phát triển hệ sinh thái TTNT; thúc đẩy ứng dụng TTNT; thúc đẩy hợp tác quốc tế trong lĩnh vực TTNT.

Nguồn: baochinhphu.vn

Tìm kiếm...

Thông báo mới

Quy định cơ chế tự chủ của tổ chức KH&CN công lập. Nghị định số 54/2016/NĐ-CP


Quyết định số 19/QĐ-SKHCN ngày 31/01/2018 về việc ban hành quy chế làm việc của Sở Khoa học và Công nghệ


Quyết định về việc công bố thủ tục hành chính đã chuẩn hóa thuôc phạm vi chức năng quản lý của Sở Khoa học và Công nghệ Hòa Bình


Thông báo tuyển dụng lao động hợp đồng theo Nghị định số 68/2000/NĐ-CP ngày 17/11/2000 của Chính Phủ


Quyết định 23/2015/QĐ-UBND ngày 13/8/2015 của UBND tỉnh Hòa Bình về việc ban hành quy định vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Hòa Bình


Quy định cơ chế tự chủ của tổ chức KH&CN công lập. Nghị định số 54/2016/NĐ-CP


Quyết định số 19/QĐ-SKHCN ngày 31/01/2018 về việc ban hành quy chế làm việc của Sở Khoa học và Công nghệ


Quyết định về việc công bố thủ tục hành chính đã chuẩn hóa thuôc phạm vi chức năng quản lý của Sở Khoa học và Công nghệ Hòa Bình


Thông báo tuyển dụng lao động hợp đồng theo Nghị định số 68/2000/NĐ-CP ngày 17/11/2000 của Chính Phủ


Quyết định 23/2015/QĐ-UBND ngày 13/8/2015 của UBND tỉnh Hòa Bình về việc ban hành quy định vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Hòa Bình


Quy định cơ chế tự chủ của tổ chức KH&CN công lập. Nghị định số 54/2016/NĐ-CP


Quyết định số 19/QĐ-SKHCN ngày 31/01/2018 về việc ban hành quy chế làm việc của Sở Khoa học và Công nghệ


Quyết định về việc công bố thủ tục hành chính đã chuẩn hóa thuôc phạm vi chức năng quản lý của Sở Khoa học và Công nghệ Hòa Bình


Thông báo tuyển dụng lao động hợp đồng theo Nghị định số 68/2000/NĐ-CP ngày 17/11/2000 của Chính Phủ


Quyết định 23/2015/QĐ-UBND ngày 13/8/2015 của UBND tỉnh Hòa Bình về việc ban hành quy định vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Hòa Bình


Quy định cơ chế tự chủ của tổ chức KH&CN công lập. Nghị định số 54/2016/NĐ-CP


Quyết định số 19/QĐ-SKHCN ngày 31/01/2018 về việc ban hành quy chế làm việc của Sở Khoa học và Công nghệ


Quyết định về việc công bố thủ tục hành chính đã chuẩn hóa thuôc phạm vi chức năng quản lý của Sở Khoa học và Công nghệ Hòa Bình


Thông báo tuyển dụng lao động hợp đồng theo Nghị định số 68/2000/NĐ-CP ngày 17/11/2000 của Chính Phủ


Quyết định 23/2015/QĐ-UBND ngày 13/8/2015 của UBND tỉnh Hòa Bình về việc ban hành quy định vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Hòa Bình


Quy định cơ chế tự chủ của tổ chức KH&CN công lập. Nghị định số 54/2016/NĐ-CP


Quyết định số 19/QĐ-SKHCN ngày 31/01/2018 về việc ban hành quy chế làm việc của Sở Khoa học và Công nghệ


Quyết định về việc công bố thủ tục hành chính đã chuẩn hóa thuôc phạm vi chức năng quản lý của Sở Khoa học và Công nghệ Hòa Bình


Thông báo tuyển dụng lao động hợp đồng theo Nghị định số 68/2000/NĐ-CP ngày 17/11/2000 của Chính Phủ


Quyết định 23/2015/QĐ-UBND ngày 13/8/2015 của UBND tỉnh Hòa Bình về việc ban hành quy định vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Hòa Bình


Quy định cơ chế tự chủ của tổ chức KH&CN công lập. Nghị định số 54/2016/NĐ-CP


Quyết định số 19/QĐ-SKHCN ngày 31/01/2018 về việc ban hành quy chế làm việc của Sở Khoa học và Công nghệ


Quyết định về việc công bố thủ tục hành chính đã chuẩn hóa thuôc phạm vi chức năng quản lý của Sở Khoa học và Công nghệ Hòa Bình


Thông báo tuyển dụng lao động hợp đồng theo Nghị định số 68/2000/NĐ-CP ngày 17/11/2000 của Chính Phủ


Quyết định 23/2015/QĐ-UBND ngày 13/8/2015 của UBND tỉnh Hòa Bình về việc ban hành quy định vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Hòa Bình


Quy định cơ chế tự chủ của tổ chức KH&CN công lập. Nghị định số 54/2016/NĐ-CP


Quyết định số 19/QĐ-SKHCN ngày 31/01/2018 về việc ban hành quy chế làm việc của Sở Khoa học và Công nghệ


Quyết định về việc công bố thủ tục hành chính đã chuẩn hóa thuôc phạm vi chức năng quản lý của Sở Khoa học và Công nghệ Hòa Bình


Thông báo tuyển dụng lao động hợp đồng theo Nghị định số 68/2000/NĐ-CP ngày 17/11/2000 của Chính Phủ


Quyết định 23/2015/QĐ-UBND ngày 13/8/2015 của UBND tỉnh Hòa Bình về việc ban hành quy định vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Hòa Bình


Quy định cơ chế tự chủ của tổ chức KH&CN công lập. Nghị định số 54/2016/NĐ-CP


Quyết định số 19/QĐ-SKHCN ngày 31/01/2018 về việc ban hành quy chế làm việc của Sở Khoa học và Công nghệ


Quyết định về việc công bố thủ tục hành chính đã chuẩn hóa thuôc phạm vi chức năng quản lý của Sở Khoa học và Công nghệ Hòa Bình


Thông báo tuyển dụng lao động hợp đồng theo Nghị định số 68/2000/NĐ-CP ngày 17/11/2000 của Chính Phủ


Quyết định 23/2015/QĐ-UBND ngày 13/8/2015 của UBND tỉnh Hòa Bình về việc ban hành quy định vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Hòa Bình



Dan hoi GD So tra loi
bkhcn
DCS-VN chinh-phu
tap chi KHCN Báo Khoa học & Phát triển
NASATI Varans

 

Logo DVC 123 

Thống kê truy cập

2092935
Hôm nay
Hôm qua
Tuần này
Tuần trước
Tháng này
Tháng trước
Tất cả các ngày
818
996
8433
2075540
42990
27776
2092935

Your IP: 3.232.129.123
2021-02-28 18:15