Banner 1222x465 2

DO LUONG

232323232

DOLUONG

QUYPHAT

Banner 06

Untitled333333333
THUVIENKHCN
cam cao phong
Untitled2
Web hosting
pctn77845
Trong ba năm, Việt Nam tăng 17 bậc về chỉ số đổi mới sáng tạo. Lần đầu tiên, chỉ số này trở thành tiêu chí đo lường năng lực cạnh tranh quốc gia hàng năm.
 

Những đóng góp của khoa học và công nghệ được nêu trong báo cáo chính trị Đại hội đại biểu Đảng Bộ Khoa học và Công nghệ lần thứ XXIII nhiệm kỳ 2020-2025 trong phiên khai mạc sáng 28/8. Ông Sơn Minh Thắng, Ủy viên BCH, Bí thư Đảng ủy Khối các cơ quan TƯ, ông Chu Ngọc Anh, Ủy viên BCH TƯ Đảng, Bí thư Ban cán sự Đảng, Bộ trưởng, ông Trần Văn Tùng, Bí thư Đảng uỷ Bộ, Thứ trưởng và 213 đại biểu đại diện cho gần 2.000 đảng viên của Bộ Khoa học và Công nghệ tham dự đại hội.

1421

Bộ trưởng Chu Ngọc Anh phát biểu tại Đại hội. Ảnh: Giang Huy.
 

Sau phần phát biểu khai mạc của Bí thư Đảng ủy, Thứ trưởng Trần Văn Tùng, Thứ trưởng Lê Xuân Định đã báo cáo hoạt động giai đoạn 2015-2020. Điểm đặc biệt ở nhiệm kỳ này Chính phủ đã bổ sung chức năng quản lý nhà nước đối với hoạt động đổi mới sáng tạo cho Bộ Khoa học và Công nghệ.

Ông Định cho biết, giai đoạn 2015 - 2020 khoa học công nghệ (KHCN) có đóng góp quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội. Năng suất lao động được nâng lên thể hiện qua chỉ số năng suất các yếu tố tổng hợp TFP (tăng từ 33,6% giai đoạn 2011-2015 lên 44,46% giai đoạn 2016-2019), tỷ trọng giá trị xuất khẩu sản phẩm công nghệ cao trong tổng giá trị hàng hóa xuất khẩu đạt 50% năm 2020.

Tiềm lực nghiên cứu và vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao thông qua số lượng các bài báo khoa học, công trình công bố quốc tế tăng trưởng nhanh, trung bình trên 20%/năm. Hiện cả nước có gần 67.000 cán bộ nghiên cứu và phát triển quy đổi tương đương toàn thời gian – TFP (đạt 7 người/vạn dân).

2360

Đoàn Chủ tịch điều hành Đại hội. Ảnh: Giang Huy.
 

Hiện Đề án Hệ Tri thức Việt số hóa được triển khai để hình thành cơ sở dữ liệu số của người Việt. Có 3 khu công nghệ cao quốc gia là Hòa Lạc, TP. Hồ Chí Minh và Đà Nẵng đã thu hút hàng trăm dự án đầu tư với số vốn hàng chục tỷ USD. Nguồn lực tài chính từ xã hội và doanh nghiệp cho KHCN tăng, thể hiện qua tỷ trọng đầu tư giữa Nhà nước và doanh nghiệp là (52/48) so với tỷ lệ 70/30 của hơn 5 năm trước.

Vai trò của doanh nghiệp trong chuỗi hoạt động nghiên cứu và ĐMST ngày càng trở nên quan trọng. Thị trường công nghệ được thúc đẩy phát triển, cả nước có 15 sàn giao dịch công nghệ, 50 vườn ươm công nghệ, 186 tổ chức đại diện sở hữu công nghiệp và mạng lưới các trung tâm ứng dụng và chuyển giao tiến bộ KHCN trên toàn quốc.

Ông Định nhấn mạnh, những đóng góp của KHCN còn thể hiện qua chỉ số đổi mới sáng tạo của Việt Nam liên tục tăng. Năm 2017 tăng 12 bậc, năm 2018 tăng 2 bậc, năm 2019 tăng tiếp 3 bậc, xếp thứ 42 trên 129 quốc gia, đưa Việt Nam vươn lên dẫn đầu nhóm 26 quốc gia thu nhập trung bình thấp và đứng thứ 3 ASEAN.

3258

Thứ trưởng Lê Xuân Định trình bày báo cáo chính trị. Ảnh: Giang Huy.
 

Khi Covid-19 bùng phát, các nhà khoa học Việt Nam đã nhanh chóng nuôi cấy và phân lập virus corona chủng mới, đưa Việt Nam là một trong bốn quốc gia đầu tiên trên thế giới thực hiện thành công việc phân lập virus. Nghiên cứu, chế tạo thành công và được Bộ Y tế cấp phép sử dụng 4 bộ sinh phẩm RT-PCR và realtime RT-PCR phát hiện nCoV, được Vương Quốc Anh cấp giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn Châu Âu (CE) và giấy chứng nhận được bán tự do tại thị trường Châu Âu (CFS). Bộ kit chẩn đoán đáp ứng nhu cầu sử dụng trong nước, giá rẻ hơn so với giá nhập khẩu, tiết kiệm ngân sách và có năng lực xuất khẩu.

Hiện vaccine Covid-19 của Việt Nam đang ở giai đoạn thử nghiệm khả năng sinh kháng thể trên chuột. Việc truy vết người tiếp xúc, kiểm soát các ca bệnh, khoanh vùng, dập dịch, dự báo dịch tễ thể hiện vai trò của ứng dụng công nghệ, phát huy nền tảng của Hệ tri thức Việt số hóa trong việc xây dựng bản đồ vùng dịch sử dụng Vmap... giúp Việt Nam kiểm soát dịch bệnh.

Phát biểu tại sự kiện, Bộ trưởng Chu Ngọc Anh khẳng định thời gian qua toàn Đảng bộ đã nỗ lực hoàn thành tốt các nhiệm vụ chính trị và đạt nhiều kết quả trên các mặt công tác của ngành. Đổi mới sáng tạo trở thành một tư duy mới trong quản lý, vận hành nền kinh tế, xã hội và doanh nghiệp ở Việt Nam. "Chính phủ coi đổi mới sáng tạo như một lĩnh vực mới trong quản lý nhà nước, một trụ cột mới trong phát triển kinh tế - xã hội và lần đầu tiên, chỉ số về đổi mới sáng tạo trở thành tiêu chí đo lường hiệu quả của môi trường kinh doanh và năng lực cạnh tranh quốc gia hàng năm", Bộ trưởng nói.

Ông cũng cho biết, nội hàm về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo do Bộ KHCN tham mưu đã được đưa vào các Nghị quyết quan trọng của Đảng về đổi mới mô hình tăng trưởng, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN, cơ cấu lại, đổi mới và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước, phát triển kinh tế tư nhân, chủ động tham gia Cách mạng công nghiệp 4.0, hội nhập kinh tế quốc tế trong bối cảnh nước ta tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới.

Hiện nhiều sáng kiến pháp luật và chính sách mới như Luật Chuyển giao Công nghệ, Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi, Chiến lược quốc gia về sở hữu trí tuệ, Đề án phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo, Đề án Tri thức Việt số hóa được khởi xướng đã mở ra các đường hướng và không gian mới cho hoạt động nghiên cứu, ứng dụng và truyền bá tri thức, công nghệ trong đời sống kinh tế - xã hội, phục vụ các mục tiêu phát triển quốc gia.

"KHCN đã thực sự đồng hành cùng các cấp, ngành và địa phương để bám sát thực tiễn, đóng góp ngày càng thiết thực hơn cho phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng và an ninh quốc gia, nâng cao chất lượng cuộc sống người dân, góp phần tạo nên thế và lực mới cho đất nước", Bộ trưởng Chu Ngọc Anh nói.

Sau phần tham luận, Đại hội sẽ bầu Ban chấp hành nhiệm kỳ 2020-2025. Kết quả sẽ được công bố vào phiên buổi chiều.

Liên kết nguồn tin: https://vnexpress.net/chi-so-doi-moi-sang-tao-cua-viet-nam-lien-tuc-tang-4153380.html

Nguồn: most.gov.vn

Tỉ lệ dịch vụ công trực tuyến mức độ 4 vẫn thấp và nếu không có cách làm mới sẽ không thể đạt mục tiêu 30% trong năm 2020. Đến thời điểm hiện nay, vẫn còn 8 bộ, 25 tỉnh tỉ lệ dịch vụ công trực tuyến mức 4 dưới 10%, đây là con số đáng báo động.

08 27 Điểm báo

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc chủ trì Hội nghị. Ảnh: VGP/Quang Hiếu
 

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nhấn mạnh điều này tại Hội nghị trực tuyến của Ủy ban Quốc gia về Chính phủ điện tử (CPĐT) với các Ban Chỉ đạo xây dựng CPĐT bộ, ngành và Ban Chỉ đạo xây dựng chính quyền điện tử 63 tỉnh, thành phố.

Tại Hội nghị, đại diện Bộ Y tế cho biết một trong những bài học quan trọng là sự quyết liệt của người đứng đầu. Đến nay Bộ Y tế đã hoàn thành cung cấp dịch vụ công trực tuyến mức độ 4 đối với 100% thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền quản lý của Bộ Y tế. 100% bệnh viện đã ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT); 99,5% các cơ sở khám chữa bệnh đã kết nối giám định khám chữa bệnh bảo hiểm y tế với cơ quan Bảo hiểm Xã hội Việt Nam,...

Cùng quan điểm, tỉnh Bình Phước cho rằng nơi nào người đứng đầu vào cuộc thật sự thì nơi đó có kết quả cao. Đến nay, 100% cán bộ, công chức cấp tỉnh, cấp huyện được trang bị máy tính, cấp xã đạt 71%. Với sự quyết tâm của các cấp lãnh đạo, hệ thống hội nghị truyền hình trực tuyến từ cấp tỉnh đến cấp xã được hoàn thiện.

UBND tỉnh đã yêu cầu cán bộ, công chức không nhận hồ sơ giấy khi thực hiện dịch vụ công mức độ 3, mức độ 4; xử lý nghiêm đối với các trường hợp cố tình vi phạm. Tỉ lệ hồ sơ tiếp nhận trực tuyến đã tăng vượt bậc, từ 9% (trước ngày 19/5/2020) lên 97% (ngày 21/8/2020). Tỉnh Bình Phước đề xuất Chính phủ sớm hoàn thiện và chia sẻ cho địa phương sử dụng các cơ sở dữ liệu quốc gia như dân cư, đất đai, đăng ký kinh doanh...

Ý kiến của một số doanh nghiệp cũng cho rằng cần sớm hoàn thiện các hành lang pháp lý quan trọng (trong năm 2021, muộn nhất vào năm 2022) hỗ trợ cho việc triển khai các nền tảng chính phủ số cấp quốc gia và các bộ, địa phương được hiệu quả; sớm hoàn thành các cơ sở dữ liệu quan trọng của quốc gia.

Báo cáo tại Hội nghị về việc xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, Thứ trưởng Bộ Công an Nguyễn Duy Ngọc cho biết đã bố trí 100% công an xã chính quy, đây là một nguồn nhân lực quan trọng để bảo đảm thu thập, bổ sung dữ liệu đầy đủ, liên tục. Từng đồng chí cảnh sát khu vực, công an xã xuống từng khu vực nhà dân như khẩu hiệu trong chống dịch COVID-19 là “đi từng ngõ, gõ từng nhà, rà từng người” để bảo đảm có số liệu chính xác, đầy đủ. Đến nay đã thu thập 40 triệu thông tin. Bộ Công an phấn đấu sẽ đưa vào vận hành chính thức Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư từ ngày 1/7/2021. Bộ cũng đề xuất triển khai dự án sản xuất, cấp, quản lý căn cước công dân đồng bộ với cơ sở dữ liệu dân cư quốc gia, làm nền tảng cho Chính phủ điện tử.

Báo cáo tiến độ và kế hoạch triển khai cơ sở dữ liệu đất đai quốc gia, Bộ TN&MT cho biết, đến nay 100% Văn phòng Đăng ký đất đai đã ứng dụng CNTT trong quản lý hồ sơ địa chính, quản lý đất đai.

Tính đến hết tháng 8/2020 đã có 192/707 đơn vị hành chính cấp huyện đưa cơ sở dữ liệu (CSDL) địa chính vào vận hành, khai thác, sử dụng, đã đưa được hơn 22 triệu thửa đất và hơn 11 triệu hồ sơ địa chính dạng số vào CSDL đất đai để quản lý, khai thác sử dụng.

Theo tiến độ của dự án, dự kiến đến cuối năm 2020 cơ bản hoàn thành cơ sở hạ tầng, phần mềm nền tảng của hệ thống thông tin đất đai, sẵn sàng các giao thức để kết nối, chia sẻ dữ liệu tới Cổng Dịch vụ công quốc gia; tiếp tục phát triển, hoàn thiện trong giai đoạn 2021-2025.

08 27 Điểm báo 1

Thủ tướng phát biểu tại Hội nghị. Ảnh: VGP/Quang Hiếu
 

Ghi nhận các ý kiến, kết luận Hội nghị, Thủ tướng đánh giá cao Bộ Y tế, Bộ Thông tin và Truyền thông (TT&TT) chỉ đạo đẩy mạnh ứng dụng CNTT, phát huy, tận dụng tối đa hạ tầng công nghệ số để góp phần cùng xã hội vào công tác phòng, chống dịch COVID-19 của Việt Nam mà được thế giới đánh giá là điểm sáng.

Thủ tướng cũng biểu dương các doanh nghiệp công nghệ tiêu biểu như Viettel, VNPT, BKAV… đã đóng góp nhân lực, tài lực vào phòng chống dịch, đầu tư xây dựng các ứng dụng xử lý, phân tích tình hình dịch bệnh, truy vết tiếp xúc người nhiễm bệnh như Bluezone, NCovi…

Theo Thủ tướng, lực lượng trên 50.000 doanh nghiệp công nghệ hiện nay có vai trò quan trọng trong chuyển đổi số ở Việt Nam, “không có thì khó thành công”.  Thời gian qua, các nền tảng CPĐT được phát triển nhanh. Số lượng các nền tảng tích hợp, chia sẻ dữ liệu cấp bộ, tỉnh được xây dựng tăng đột biến, trong 6 tháng qua, tỉ lệ bộ, tỉnh có nền tảng này tăng hơn 3 lần (tháng 2/2020 mới chỉ có 25 bộ, tỉnh có nền tảng tương ứng 27%, nhưng đến tháng 7 đã có 76 bộ, tỉnh có nền tảng, tương ứng 82,6%). Hiện nay, tỉ lệ dịch vụ công trực tuyến mức độ 4 được cung cấp khoảng 15,9%, tăng gấp đôi so với cùng kỳ năm trước.

Trao đổi văn bản điện tử giữa các cơ quan Nhà nước đi vào nền nếp, với tỉ lệ đạt khoảng 88,5% (sát với mục tiêu năm 2020 đạt 90% nêu trong Nghị quyết 17).

Các doanh nghiệp Việt Nam đã dần làm chủ các công nghệ cốt lõi, phát triển các nền tảng công nghệ cho chuyển đổi số, Bộ TT&TT đã có sáng kiến hay, hằng tuần tổ chức lễ ra mắt các nền tảng Việt Nam để tôn vinh, quảng bá các sản phẩm Việt Nam, đến nay hàng chục nền tảng đã được ra mắt.

Về Cổng Dịch vụ công quốc gia, vừa qua, Văn phòng Chính phủ đã tích cực triển khai tích cực nhiều dịch vụ công trực tuyến mức độ cao của các bộ, tỉnh, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp truy cập các dịch vụ công trực tuyến.

Thủ tướng nhìn nhận xuất hiện các cách làm mới có thể nhân rộng để đẩy nhanh triển khai Chính phủ số, chuyển đổi số như mạnh dạn thay đổi cách thức làm việc, dùng thử, trải nghiệm các ứng dụng công nghệ mới, khi có hiệu quả triển khai chính thức ngay; phát triển các ứng dụng chính phủ điện tử dựa trên mô hình nền tảng dùng chung để rút ngắn thời gian, chi phí triển khai, tăng cường kết nối/chia sẻ dữ liệu; dành tỉ lệ chi thích đáng từ ngân sách Nhà nước cho CNTT để bảo đảm ngưỡng đầu tư phát huy hiệu quả mà tiêu biểu như tỉnh Bình Phước chi hơn 1% từ ngân sách Nhà nước cho CNTT.

Thủ tướng cũng nhất trí với ý kiến của Bộ Y tế, tỉnh Bình Phước về bài học quan trọng là phát huy vai trò của người đứng đầu.

Bên cạnh kết quả đạt được, Thủ tướng chỉ ra một số tồn tại cần sớm khắc phục. Đó là môi trường pháp lý cho CPĐT chưa hoàn thiện, một số nghị định quan trọng vẫn chưa được ban hành (bảo vệ dữ liệu cá nhân, định danh, xác thực điện tử).

Tỉ lệ dịch vụ công trực tuyến mức độ 4 vẫn thấp và nếu không có cách làm mới sẽ không thể đạt mục tiêu 30% trong năm 2020. Đến thời điểm hiện nay, vẫn còn 8 bộ, 25 tỉnh tỉ lệ dịch vụ công trực tuyến mức 4 dưới 10%, đây là con số đáng báo động.

Một số cơ sở dữ liệu quốc gia tạo nền tảng phát triển chính phủ điện tử vẫn chậm được triển khai, đặc biệt là cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, đất đai. Vấn đề an toàn, an ninh mạng chưa được đầu tư đúng mức. Đầu tư cho an toàn an ninh mạng thường không đạt ngưỡng 10% ngân sách chi cho CNTT.

Tại Hội nghị, Thủ tướng đề nghị triển khai ngay một số phương hướng, nhiệm vụ trong thời gian tới. Trước hết là về thể chế. Bộ Công an cần đẩy nhanh tiến độ xây dựng Nghị định về bảo vệ dữ liệu cá nhân, trình Chính phủ xem xét ban hành trong năm 2020.

Văn phòng Chính phủ phối hợp Bộ TT&TT hoàn thành các thủ tục trình Chính phủ xem xét ban hành Nghị  định về định danh và xác thực điện tử, phấn đầu hoàn thành trong quý III/2020.

Các bộ, ngành, địa phương khẩn trương cung cấp dịch vụ công trực tuyến mức độ 4, ít nhất đạt mục tiêu 30% trong năm 2020, hướng đến năm 2021, hầu hết các dịch vụ công được cung cấp trực tuyến mức độ 4… Hằng tháng, Bộ TT&TT thống kê tỉ lệ cung cấp dịch vụ công trực tuyến mức độ 4 của từng bộ, tỉnh để đôn đốc triển khai.

08 27 Điểm báo 2

Thủ tướng yêu cầu các bộ, ngành, địa phương hoàn thành xây dựng nền tảng tích hợp, chia sẻ dữ liệu cấp bộ, tỉnh trong tháng 10/2020 và kết nối với nền tảng tích hợp, chia sẻ dữ liệu quốc gia. Các Bộ trưởng, Chủ tịch UBND các tỉnh, thành phố phải làm gương về áp dụng CNTT.

Các bộ, ngành, địa phương từng bước tích hợp các dịch vụ công trực tuyến lên Cổng Dịch vụ công quốc gia theo hướng dẫn của Văn phòng Chính phủ để số lượng dịch vụ công trên Cổng Dịch vụ công quốc gia phải nhiều hơn, tốc độ cao hơn, chứ không chỉ ở con số 1.000 như hiện nay. Các bộ, ngành, địa phương hoàn thành triển khai biện pháp giám sát, điều hành an toàn, an ninh mạng tập trung và kết nối với Trung tâm Giám sát an toàn không gian mạng quốc gia trong năm 2020.

Bộ TT&TT chủ trì, kết hợp cả đầu tư và thuê dịch vụ, phát triển một số hạ tầng truyền dẫn, điện toán đám mây, nền tảng chuyển đổi số quan trọng. Bộ TT&TT chủ trì, phối hợp với Bộ Nội vụ xây dựng và trình Chính phủ phê duyệt Nghị định về kiện toàn, nâng cấp các đơn vị chuyên trách về CNTT thành các đơn vị chuyên trách về chuyển đổi số tại các bộ, ngành, địa phương, hoàn thành trong tháng 12/2020.

Bộ TT&TT xây dựng đề án kiện toàn, nâng cấp, tổ chức lại Cục Tin học hóa với cơ cấu tổ chức phù hợp, chế độ ưu đãi…, bảo đảm năng lực, nguồn lực để dẫn dắt tổ chức triển khai tiến trình chuyển đổi số quốc gia, trình Thủ tướng xem xét trong thời gian sớm nhất.

Bày tỏ ấn tượng khi hiện nay có nhiều doanh nghiệp mới với doanh số rất cao, Thủ tướng nhấn mạnh việc khuyến khích, hỗ trợ các doanh nghiệp số, các doanh nghiệp công nghệ phát triển, “thể chế nào ràng buộc thì các đồng chí báo cáo” để tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp.

 Nguồn: most.gov.vn

Thực hiện Kế hoạch số 14/KH-UBND, ngày 31/01/2020 của UBND tỉnh Hòa Bình về việc tổ chức Hội thi “Tìm kiếm sáng kiến cải cách hành chính tỉnh Hòa Bình năm 2020”;

Nhằm phát huy tính năng động, sáng tạo của cán bộ, công chức, viên chức, người lao động và các các tổ chức, cá nhânđang sống, làm việc, học tập tại tỉnh Hòa Bình; Tìm ra những giải pháp, sáng kiến mới về cải cách hành chính có tác động trực tiếp đến các lĩnh vực của đời sống xã hội, hướng tới nâng cao chất lượng phục vụ nhân dân. Đặc biệt là những giải pháp có nội dung tập trung vào lĩnh vực “Ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước” đã được áp dụng tại cơ sở và có khả năng mang lại hiệu quả thiết thực, góp phần đẩy mạnh công tác cải cách hành chính của cơ quan, đơn vị và địa phương, Sở Khoa học và Công nghệ phát động Hội thi “Tìm kiếm sáng kiến cải cách hành chính tỉnh Hòa Bình năm 2020”.

1. Đối tượng, nội dung hội thi và hình thức dự thi:

Theo quy định tại Thể lệ Hội thi “Tìm kiếm sáng kiến cải cách hành chính tỉnh Hòa Bình năm 2020” số 44/TL-SKHCN do Sở Khoa học và Công nghệ ban hành ngày 05/02/2020.

2. Thời gian tổ chức:

-Thời gian Ban Tổ chức nhận sáng kiến dự thi: Từ ngày 25 tháng 02 năm 2020 đến hết ngày 20 tháng 9 năm 2020.

-Tổ chức đánh giá, đề nghị công nhận sáng kiến có ảnh hưởng, hiệu quả áp dụng trong phạm vi tỉnh; Tổ chức chấm giải các sáng kiến có ảnh hưởng, hiệu quả áp dụng trong phạm vi tỉnh; Công bố kết quả và trao giải: Tháng 10/2020.

3. Địa điểm nhận sáng kiến dự thi:

Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả một cửa tại Trung tâm phục vụ hành chính công tỉnh Hòa Bình, Địa chỉ: số 485 đường Trần Hưng Đạo - phương Phương Lâm - TP Hòa Bình - Tỉnh Hòa Bình (Áp dụng theo quy trình tiếp nhận và giải quyết thủ tục hành chính xét công nhận sáng kiến có ảnh hưởng, hiệu quả áp dụng trong phạm vi tỉnh).

Mọi thông tin cần trao đổi xin liên hệ: đ/c Nguyễn Thị Minh Phương – Chuyên viên phòng Quản lý chuyên ngành, Sđt: 0945025357, Email: This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it..

ung dung thong timunh 9875632

Theo Sở nông nghiệp và phát triển nông thôn TP.HCM, ngành nông nghiệp thành phố triển khai thực hiện Chương trình phát triển nông nghiệp giai đoạn 2019 - 2025 theo hướng cơ cấu lại và đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp theo Quyết định số 1589/QĐ-UBND ngày 27/4/2019 của UBND TP.HCM.


Theo đó, đẩy mạnh phát triển khoa học công nghệ, ứng dụng công nghệ thông tin trong nông nghiệp cùng góp phần xây dựng đô thị thông minh của thành phố, tận dụng tốt cơ hội của cuộc cách mạng 4.0, nâng cao hiệu quả sản xuất gắn với đào tạo nguồn nhân lực.

Nâng cao tỷ lệ ứng dụng nhà lưới, nhà kính, nhà màng trong sản xuất rau, hoa, cây kiểng giúp đảm bảo ổn định năng suất, chất lượng cây trồng. Các mô hình sản xuất rau thủy canh theo công nghệ màng mỏng dinh dưỡng NFT. Mô hình trồng rau, hoa, cây kiểng ứng dụng tưới tự động nhỏ giọt kết hợp châm phân bón tự động... Ứng dụng thuốc trừ sâu hữu cơ sinh học, các loại thiên địch, chế phẩm sinh học trong phòng trừ sinh vật hại cây trồng, góp phần xây dựng nông nghiệp hữu cơ, không độc hại và thân thiện với môi trường.

Nâng cao năng lực quản lý ngành giống, đáp ứng với yêu cầu hội nhập quốc tế và khu vực, đặc biệt nguồn nhân lực trong quản lý, sản xuất giống. Tổ chức chứng nhận chất lượng giá trị giống vật nuôi theo các phương pháp tiên tiến; kiểm tra, kiểm nghiệm chất lượng giống bằng các phương pháp kỹ thuật tiên tiến, hiện đại.

giong bong thuan 698653

Theo đánh giá của Hiệp hội Tư vấn Bông thế giới, trong 10 năm trở lại đây bình quân năng suất và giá bông xơ có tăng nhưng với tốc độ chậm so với xu hướng tăng ngày càng nhanh của chí phí sản xuất do tăng giá vật tư đầu vào, chi phí lao động và một số chi phí thiết bị bổ sung và phụ trợ khác. Hiện tại, diện tích trồng bông toàn cầu biến động trong khoảng 30 - 35 triệu ha với sản lượng bông xơ khoảng 20 - 25 triệu tấn/năm. Trong năm 2016, diện tích trồng bông toàn cầu vào khoảng 30,5 triệu ha với sản lượng 21,2 triệu tấn.


Đối với Việt Nam, phát triển bông hiện tại cũng nằm trong xu thế chung của thế giới. Năng suất bông bình quân cả nước thấp và tăng chậm. Hơn nữa, chi phí sản xuất cao, trung bình chi phí khoảng 1,1USD/1kg xơ, thuộc nhóm nước có chi phí sản xuất cao nhất và đang có xu hướng tăng theo giá cả vật tư, nhân công,… do đó các đơn vị sản xuất khó có thể dùng biện pháp tăng giá mua để kích thích người trồng, đồng thời, hiệu quả sản xuất bông thấp, rủi ro cao, cây bông mất ưu thế cạnh tranh so với cây trồng khác. Trước thực tế trên, tăng giá trị đầu ra của sản phẩm bông và giảm chi phí sản xuất đầu vào hợp lý là giải pháp quan trọng để tăng khả năng cạnh tranh của cây bông nhằm khôi phục và phát triển bông trong nước; trong đó, sử dụng các giống bông xơ có màu tự nhiên với giá xơ gấp 2 - 2,5 lần so với bông xơ trắng giúp tăng giá trị đầu ra của nguyên liệu và sản phẩm dệt may; từ đó, tăng hiệu quả sản xuất, kích thích sản xuất bông phát triển. Mặt khác, chọn tạo các giống bông lai xơ trắng có năng suất cao, phẩm chất tốt và chống chịu được một số loại sâu bệnh hại chính nhằm góp phần giảm thiểu ô nhiễm môi trường do sử dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật để phòng trừ sâu bệnh hại, đồng thời nâng cao thu nhập cho người trồng bông nhờ giảm chi phí đầu vào thuốc bảo vệ thực vật và nhân công phun thuốc. Hiện tại, mặc dù chưa được khai thác đầy đủ, nhưng với thuận lợi về nguồn gen hiện có, khá phong phú về chủng loại và số lượng (hơn 2.100 mẫu giống); trong đó, có 75 mẫu giống bông xơ màu (gồm 66 mẫu giống bông xơ màu nâu và 9 mẫu giống bông xơ màu xanh lơ), 300 mẫu kháng rầy xanh chích hút (nhiều lông/thân lá), hơn 250 mẫu chất lượng xơ tốt, 60 mẫu kháng cao đối với sâu đục quả và 20 mẫu giống kháng sâu đồng thời chống chịu thuốc trừ cỏ có thể dùng làm nguồn vật liệu khởi đầu tốt. Trong bối cảnh như vậy, nhằm phát triển các giống bông thuần xơ màu và bông lai xơ trắng năng suất cao, phẩm chất tốt và chống chịu sâu hại cho hiệu quả kinh tế cao hơn các giống hiện đang trồng nhằm dần thay thế các giống cũ đang trồng phổ biến là một giải pháp kỹ thuật thích hợp, tăng hiệu quả kinh tế để tăng khả năng cạnh tranh của cây bông, khôi phục và phát triển sản xuất bông nhằm đáp ứng nhu cầu nguyên liệu cao và ngày càng tăng của ngành Dệt - May, tăng tỷ lệ nội địa, giảm nhập siêu, đa dạng hóa sản xuất, nhóm nghiên cứu doThS. Nguyễn Văn Sơn, Viện Nghiên cứu Bông và Phát triển Nông nghiệp Nha Hố đứng đầu đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “Chọn tạo giống bông thuần xơ màu và bông lai xơ trắng có năng suất cao, phẩm chất tốt và chống chịu sâu hại”.

Qua một thời gian triển khai (từ tháng 01/2014 đến tháng 12/2017), nhóm nghiên cứu đã thu được các kết quả như sau:
1. Trong công tác nhập nội và thử nghiệm giống bông thuần xơ màu: đã nhập nội và thử nghiệm 12 mẫu giống bông xơ màu, 2 mẫu giống bông thuần xơ màu có năng suất cao hơn giống đối chứng C118, tuy nhiên, khả năng kháng rầy xanh kém và chất lượng xơ không đạt yêu cầu nên không thể sử dụng bình tuyển trực tiếp mà thông qua lai tạo và chọn lọc sau lai. Tạo các quần thể lai giữa bố mẹ xơ màu và giữa bố mẹ xơ màu với xơ trắng cung cấp cho chọn lọc dòng thuần xơ màu: đã đánh giá và chọn lọc 50 bố mẹ xơ màu và xơ trắng, 7 bố mẹ xơ màu nâu và 5 bố mẹ xơ trắng có tiêu chí phù hợp cho chọn lọc bông thuần xơ màu; 35 quần thể lai F1 giữa bông thuần xơ màu và bông lai xơ trắng đã được lai tạo và 3 quần thể F2 phù hợp cho chọn lọc các dòng bông thuần xơ màu chín sớm từ các quần thể phân ly F2 - F8 đã được chọn lọc. Đánh giá 50 mẫu giống bông thuần hiện có trong tập đoàn quỹ gen xơ màu, 4 mẫu có năng suất thực thu > 20 tạ/ha, tuy nhiên, khả năng kháng rầy xanh kém và chất lượng xơ không đạt yêu cầu nên không thể sử dụng bình tuyển trực tiếp mà thông qua lai tạo và chọn lọc sau lai. Trong 6 quần thể từ thế hệ F2 - F7, 49 dòng có triển vọng được chọn lọc cung cho đánh giá, 24 dòng có triển vọng cung cấp cho so sánh và 16 dòng cho khảo nghiệm cơ bản.
2. Trong công tác nhập nội và thử nghiệm giống bông lai xơ trắng: đã nhập nội và thử nghiệm 20 giống bông lai xơ trắng, 4 giống bông lai xơ trắng có năng suất cao thấp hơn giống đối chứng VN01-2 và kháng rầy kém. Tuy nhiên, tỷ lệ xơ cao và chất lượng xơ tốt có thể sử dụng làm vật liệu nghiên cứu chọn tạo giống bông chất lượng xơ cao. Đánh giá đa dạng di truyền bằng phương pháp truyền thống cho 50 mẫu giống bông thuần xơ trắng, đã phân thành 5 nhóm với các đặc tính quý khác nhau. Đánh giá đa dạng di truyền bằng phương pháp ứng dụng công nghệ sinh học cho 50 mẫu giống bông thuần xơ trắng đã phân được 2 nhóm chính và 8 nhóm phụ khác nhau. Trên cơ sở phân nhóm di truyền bằng phương pháp truyền thống và ứng dụng công nghệ sinh học đã tạo 100 tổ hợp lai theo các sơ đồ lai lai kiểm định 4x10, 4x6 và lai đơn cung cấp cho đánh giá. Đánh giá bố mẹ và 79 tổ hợp lai, 12 tổ hợp lai có triển vọng đã được chọn lọc cung cấp cho so sánh. So sánh 12 tổ hợp lai, 6 tổ hợp lai có triển vọng cung cấp cho khảo nghiệm cơ bản. Các tổ hợp đều có năng suất hơn hẳn đối chứng hiện trồng, chất lượng xơ tốt, kháng sâu xanh và kháng rầy xanh cao.
3. Trong các dòng thuần xơ màu và tổ hợp lai xơ trắng khảo nghiệm VCU qua các bước, dòng bông thuần xơ màu S10-80-13-3-6-4 và tổ hợp lai xơ trắng TL0034/B04-4-2, có năng suất vượt đối chứng chín sớm trên 15% ở các vùng, phẩm chất xơ tốt, kháng sâu xanh và kháng rầy xanh từ khá đến tốt. Đối với dòng bông thuần xơ màu có triển vọng S10-80-13-3-6-4 tại Ninh Thuận có thể trồng với mật độ 6,5 vạn cây/ha kết hợp bón phân với liều lượng 150kg N - 75kg P2O5 - 75kg K2O và thời vụ gieo trồng trong vụ mưa thích hợp nhất từ 10 - 15/7 hàng năm. Đối với tổ hợp lai xơ trắng TL00-34/BO4-4-2, trong điều kiện Ninh Thuận có thể trồng tăng mật độ lên 7,5 vạn cây/ha và bón phân với liều lượng 120 kg N + 60 kg P2O5 + 90 kg K2O và thời vụ gieo trồng trong vụ mưa thích hợp nhất từ 10 - 15/7 hàng năm.

Nhóm nghiên cứu mong muốn được tiếp tục khảo nghiệm sản xuất cho dòng bông thuần xơ màu S10-80-13-3-6-4 và tổ hợp lai xơ trắng TL00-34/BO4-4-2 ở các vùng sinh thái khác nhau để có cơ sở công nhận sản xuất thử cho dòng bông thuần xơ mà và tổ hợp lai xơ trắng trên. Bổ sung các biện pháp kỹ thuật phù hợp cho dòng bông thuần xơ màu S10-80-13-3-6-4 và tổ hợp lai xơ trắng TL00-34/BO4-4-2 phù hợp ở các vùng sinh thái khác.

Có thể tìm đọc toàn văn Báo cáo kết quả nghiên cứu của Đề tài (Mã số 14779/2018) tại Cục Thông tin KH&CN Quốc gia.
P.T.T (NASATI)

Tìm kiếm...

Thông báo mới

Quyết định 23/2015/QĐ-UBND ngày 13/8/2015 của UBND tỉnh Hòa Bình về việc ban hành quy định vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Hòa Bình


Quyết định về việc công bố thủ tục hành chính đã chuẩn hóa thuôc phạm vi chức năng quản lý của Sở Khoa học và Công nghệ Hòa Bình


Thông báo tuyển dụng lao động hợp đồng theo Nghị định số 68/2000/NĐ-CP ngày 17/11/2000 của Chính Phủ


Quy định cơ chế tự chủ của tổ chức KH&CN công lập. Nghị định số 54/2016/NĐ-CP


Quyết định số 19/QĐ-SKHCN ngày 31/01/2018 về việc ban hành quy chế làm việc của Sở Khoa học và Công nghệ


Quyết định 23/2015/QĐ-UBND ngày 13/8/2015 của UBND tỉnh Hòa Bình về việc ban hành quy định vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Hòa Bình


Quyết định về việc công bố thủ tục hành chính đã chuẩn hóa thuôc phạm vi chức năng quản lý của Sở Khoa học và Công nghệ Hòa Bình


Thông báo tuyển dụng lao động hợp đồng theo Nghị định số 68/2000/NĐ-CP ngày 17/11/2000 của Chính Phủ


Quy định cơ chế tự chủ của tổ chức KH&CN công lập. Nghị định số 54/2016/NĐ-CP


Quyết định số 19/QĐ-SKHCN ngày 31/01/2018 về việc ban hành quy chế làm việc của Sở Khoa học và Công nghệ


Quyết định 23/2015/QĐ-UBND ngày 13/8/2015 của UBND tỉnh Hòa Bình về việc ban hành quy định vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Hòa Bình


Quyết định về việc công bố thủ tục hành chính đã chuẩn hóa thuôc phạm vi chức năng quản lý của Sở Khoa học và Công nghệ Hòa Bình


Thông báo tuyển dụng lao động hợp đồng theo Nghị định số 68/2000/NĐ-CP ngày 17/11/2000 của Chính Phủ


Quy định cơ chế tự chủ của tổ chức KH&CN công lập. Nghị định số 54/2016/NĐ-CP


Quyết định số 19/QĐ-SKHCN ngày 31/01/2018 về việc ban hành quy chế làm việc của Sở Khoa học và Công nghệ


Quyết định 23/2015/QĐ-UBND ngày 13/8/2015 của UBND tỉnh Hòa Bình về việc ban hành quy định vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Hòa Bình


Quyết định về việc công bố thủ tục hành chính đã chuẩn hóa thuôc phạm vi chức năng quản lý của Sở Khoa học và Công nghệ Hòa Bình


Thông báo tuyển dụng lao động hợp đồng theo Nghị định số 68/2000/NĐ-CP ngày 17/11/2000 của Chính Phủ


Quy định cơ chế tự chủ của tổ chức KH&CN công lập. Nghị định số 54/2016/NĐ-CP


Quyết định số 19/QĐ-SKHCN ngày 31/01/2018 về việc ban hành quy chế làm việc của Sở Khoa học và Công nghệ


Quyết định 23/2015/QĐ-UBND ngày 13/8/2015 của UBND tỉnh Hòa Bình về việc ban hành quy định vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Hòa Bình


Quyết định về việc công bố thủ tục hành chính đã chuẩn hóa thuôc phạm vi chức năng quản lý của Sở Khoa học và Công nghệ Hòa Bình


Thông báo tuyển dụng lao động hợp đồng theo Nghị định số 68/2000/NĐ-CP ngày 17/11/2000 của Chính Phủ


Quy định cơ chế tự chủ của tổ chức KH&CN công lập. Nghị định số 54/2016/NĐ-CP


Quyết định số 19/QĐ-SKHCN ngày 31/01/2018 về việc ban hành quy chế làm việc của Sở Khoa học và Công nghệ


Quyết định 23/2015/QĐ-UBND ngày 13/8/2015 của UBND tỉnh Hòa Bình về việc ban hành quy định vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Hòa Bình


Quyết định về việc công bố thủ tục hành chính đã chuẩn hóa thuôc phạm vi chức năng quản lý của Sở Khoa học và Công nghệ Hòa Bình


Thông báo tuyển dụng lao động hợp đồng theo Nghị định số 68/2000/NĐ-CP ngày 17/11/2000 của Chính Phủ


Quy định cơ chế tự chủ của tổ chức KH&CN công lập. Nghị định số 54/2016/NĐ-CP


Quyết định số 19/QĐ-SKHCN ngày 31/01/2018 về việc ban hành quy chế làm việc của Sở Khoa học và Công nghệ


Quyết định 23/2015/QĐ-UBND ngày 13/8/2015 của UBND tỉnh Hòa Bình về việc ban hành quy định vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Hòa Bình


Quyết định về việc công bố thủ tục hành chính đã chuẩn hóa thuôc phạm vi chức năng quản lý của Sở Khoa học và Công nghệ Hòa Bình


Thông báo tuyển dụng lao động hợp đồng theo Nghị định số 68/2000/NĐ-CP ngày 17/11/2000 của Chính Phủ


Quy định cơ chế tự chủ của tổ chức KH&CN công lập. Nghị định số 54/2016/NĐ-CP


Quyết định số 19/QĐ-SKHCN ngày 31/01/2018 về việc ban hành quy chế làm việc của Sở Khoa học và Công nghệ


Quyết định 23/2015/QĐ-UBND ngày 13/8/2015 của UBND tỉnh Hòa Bình về việc ban hành quy định vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Hòa Bình


Quyết định về việc công bố thủ tục hành chính đã chuẩn hóa thuôc phạm vi chức năng quản lý của Sở Khoa học và Công nghệ Hòa Bình


Thông báo tuyển dụng lao động hợp đồng theo Nghị định số 68/2000/NĐ-CP ngày 17/11/2000 của Chính Phủ


Quy định cơ chế tự chủ của tổ chức KH&CN công lập. Nghị định số 54/2016/NĐ-CP


Quyết định số 19/QĐ-SKHCN ngày 31/01/2018 về việc ban hành quy chế làm việc của Sở Khoa học và Công nghệ



Dan hoi GD So tra loi
bkhcn
DCS-VN chinh-phu
tap chi KHCN Báo Khoa học & Phát triển
NASATI Varans
Dich vu hanh chinh cong

Thống kê truy cập

1932573
Hôm nay
Hôm qua
Tuần này
Tuần trước
Tháng này
Tháng trước
Tất cả các ngày
644
621
2906
1922851
20252
34604
1932573

Your IP: 34.205.93.2
2020-09-23 19:18