DO LUONG

ung dung

thong ke

DOLUONG

QUYPHAT

Khoi nghiep
 
cam cao phong
(HBĐT) - Sáng ngày 11/10/2017, Chủ tịch UBND tỉnh đã ký ban hành Quyết định số 1946/QĐ-UBND công bố tình trạng khẩn cấp thiên tai do mưa lớn trên địa bàn tỉnh Hòa Bình.
lU 2017

Theo đó,công bố tình trạng khẩn cấp các công trình hồ chứa, đường giao thông, các vị trí sạt lở đất ảnh hưởng do mưa lớn trên địa bàn tỉnh gồm các công trình:

Các công trình hồ chứa: Các công trình hồ chứa đang xả tràn, có nguy cơ tràn qua thân đập, xuất hiện các hư hỏng, sạt trượt.., các công trình đã xuất hiện các hư hỏng sự cố từ trước, đặc biệt là các công trình đang chống lũ theo các phương án phòng chống lụt bão như công trình hồCháu, xã Tu Lý, huyện Đà Bắc, hồ Khang Mời, xã Yên Mông, thành phố Hòa Bình, hồ Kem xã Địch Giáo, hồ Rộc Chu, xã Ngọc Mỹ, huyện Tân Lạc...

Các công trình giao thông: Các tuyến đường X2,đường 12B, tuyến C, đường TSA (Bãi Lạng - Bãi Chạo), tuyến Y1, tuyến T (Khoang - Nội),tuyến T (Chiềng - Lốc), Trường Sơn A (Ve - Chám),Quốc lộ 21,Quốc lộ 70B, các tuyến đường tỉnh: 438, 438B, 450... Các tuyến đường sạt lở tại một số điểm gây ách tắc, ngập úng cục bộ làm ảnh hưởng đến giao thông tìm kiếm cứu nạn.

Các điểm sạt trượt:Tại thành phố Hòa Bình và các huyện: Đà Bắc, Kim Bôi, Kỳ Sơn... xảy ra các điểm sạt lở đất, đá gây thiệt hại tài sản, cơ sở vật chất cho người dân.

Công bố nêu rõ, cơ quan Thường trực Ban Chỉ huy phòng, chống thiên tai và tìm kiếm cứu nạn tỉnh thường xuyên nắm bắt tổng hợp thông tin thiệt hại từ các địa phương báo cáo UBND tỉnh; các Sở, ban, ngành vàUBND các huyện, thành phố triển khai quyết liệt các giải pháp phòng, chống thiệt hại do mưa lớn gây ra trên địa bàn toàn tỉnh.Trưởng các đoàn được giao phụ trách các huyện, thành phố chủ động nắm bắt thông tin diễn biến mưa lũ tại địa bàn được giao phụ trách, để chỉ đạo thực hiện công tác ứng phó thiên tai.

Các Sở, ban ngành, UBND các huyện, thành phố triển khai thực hiện nghiêm túc các Công điện, văn bản chỉ đạo của Trung ương: Công điện số 110/CĐ-BCH ngày 10/10/2017 của Ban Chỉ hủy phòng chống thiên tai và Tìm kiếm cứu nạn tỉnh, Công điện số 15/CĐ-UBND ngày 11/10/2017 của Chủ tịch UBND tỉnh.

Chủ tịch UBND tỉnh yêu cầu Chánh Văn phòngUBND tỉnh, Giám đốc các Sở, Thủ trưởng các ban, ngành, các thành viên Ban Chỉ huy phòng, chống thiên tai và tìm kiếm cứu nạn tỉnh; Chủ tịch UBND các huyện, thành phốvàcác cơ quan liên quanchịu trách nhiệm thi hành Quyết định này./.

Nguồn http://www.baohoabinh.com.vn

 

(HBĐT) - Thủ tướng Chính phủ vừa có Công điện về việc triển khai các biện pháp khẩn cấp ứng phó mưa lũ và đảm bảo an toàn hồ đập
 

Công điện gửi Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố: Hòa Bình, Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Hà Nội, Hưng Yên, Hà Nam, Nam Định, Thái Bình, Bắc Ninh, Sơn La, Hải Dương, Hải Phòng, Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh; Ủy ban Quốc gia tìm kiếm cứu nạn; Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống thiên tai; các Bộ: Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Giao thông vận tải, Tài nguyên và Môi trường, Thông tin và Truyền thông, Công Thương, Quốc phòng, Công an.

Công điện nêu rõ: Do ảnh hưởng của hoàn lưu áp thấp nhiệt đới và không khí lạnh, trong những ngày qua tại các tỉnh Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ đã có mưa to đến rất to, tổng lượng mưa phổ biến từ 200 đến 300 mm, một số nơi ở Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh từ 400 đến 600 mm đã gây ngập úng, cô lập một số khu dân cư tại các vùng thấp trũng, ven sông suối. Đặc biệt, mưa lớn trên lưu vực hồ Hòa Bình đã gây đợt lũ lớn với lưu lượng đến hồ trên 14.700 m3/s và có thể còn tiếp tục tăng, thủy điện Hòa Bình đã mở liên tiếp 07 cửa xả đáy, lũ hạ lưu hệ thống sông Hồng đang lên rất nhanh - đây là đợt lũ lớn bất thường sau mùa lũ ở Bắc Bộ.

Theo dự báo, mưa lũ còn diễn biến rất phức tạp, nhất là trên hệ thống sông Hồng, sông Hoàng Long, sông Mã. Để hạn chế thiệt hại về người và tài sản của Nhân dân và nhà nước, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống thiên tai, Ủy ban Quốc gia tìm kiếm cứu nạn, các Bộ, ngành có liên quan và các địa phương chủ động triển khai các biện pháp khẩn cấp ứng phó với mưa lũ, tập trung một số nhiệm vụ sau:

1. Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố:Tiếp tục kiểm tra, rà soát, chủ động sơ tán khẩn cấp các hộ dân ra khỏi các khu vực nguy hiểm, nhất là tại các khu vực có nguy cơ xảy ra sạt lở đất, lũ ống, lũ quét, khu vực hạ lưu các hồ đập có nguy cơ xảy ra sự cố để bảo bảo an toàn tính mạng cho người dân. Bằng mọi biện pháp tiếp cận các khu dân cư còn bị cô lập do ngập sâu, hỗ trợ sơ tán bảo đảm an toàn tính mạng cho người dân, kịp thời hỗ trợ lương thực, thực phẩm, không để người dân bị đói. Chủ động bố trí lực lượng canh gác, kiểm soát, hướng dẫn giao thông tại các khu vực nước ngập sâu, chảy xiết khi mưa lũ, nhất là qua các ngầm, tràn để bảo đảm an toàn. Triển khai các biện pháp bảo vệ hệ thống đê điều, hồ đập trên địa bàn. Rà soát phương án, sẵn sàng lực lượng, phương tiện ứng phó với các tình huống, sự cố bất thường.

Đối với các địa phương ở hạ lưu hệ thống sông Hồng, đặc biệt là các tỉnh, thành phố sau đập thủy điện Hòa Bình cần theo dõi chặt chẽ diễn biến mưa lũ và kế hoạch xả lũ của các hồ thủy điện; triển khai ngay phương án phòng, chống lũ theo cấp báo động, tập trung bảo vệ hệ thống đê điều, nhất là tại các khu vực trọng điểm xung yếu; bằng mọi biện pháp thông báo kịp thời thông tin mưa lũ đến người dân sinh sống hoặc có các hoạt động trên sông, ven sông để chủ động phòng, chống; tổ chức rà soát, chủ động sơ tán các hộ dân sinh sống ngoài bãi sông khi có nguy cơ xảy ra ngập sâu.

2. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chỉ đạo các cơ quan chức năng và các địa phương triển khai các biện pháp bảo vệ đê điều, tổ chức vận hành an toàn các hồ đập và công trình thủy lợi, giảm thiểu thiệt hại đối với sản xuất nông nghiệp, hoạt động thủy sản, nhất là các hoạt động trên sông và ven sông Hồng.

3. Bộ Công Thương chỉ đạo Tập đoàn Điện lực Việt Nam và các đơn vị quản lý hồ đập thủy điện triển khai các biện pháp bảo đảm an toàn hồ đập thủy điện và hệ thống điện; phối hợp chặt chẽ với cơ quan chức năng trong việc vận hành các hồ chứa thủy điện, đặc biệt là các hồ chứa lớn trên hệ thống sông Hồng, bảo đảm tuyệt đối an toàn cho công trình, góp phần cắt giảm lũ cho hạ du.

4. Bộ Giao thông vận tải chỉ đạo khắc phục nhanh sự cố trong các đợt mưa lũ vừa qua; chủ động bố trí lực lượng, vật tư, phương tiện tại các khu vực trọng điểm, xung yếu có nguy cơ sạt lở để sẵn sàng khắc phục ngay khi xảy ra sự cố; chỉ đạo bảo đảm an toàn đối với các hoạt động giao thông vận tải thủy.

5. Ủy ban Quốc gia tìm kiếm cứu nạn, Bộ Quốc phòng, Bộ Công an chỉ đạo các đơn vị liên quan chuẩn bị lực lượng, phương tiện, sẵn sàng hỗ trợ địa phương tổ chức sơ tán dân cư và cứu hộ, cứu nạn khi có yêu cầu.

6. Bộ Tài nguyên và Môi trường chỉ đạo theo dõi chặt chẽ diễn biến mưa lũ, tăng mật độ bản tin dự báo phục vụ công tác chỉ đạo vận hành các hồ chứa, cung cấp thông tin cho các cơ quan thông tin đại chúng và các cơ quan có liên quan để kịp thời thông tin đến người dân chủ động ứng phó.

7. Bộ Thông tin và Truyền thông chỉ đạo Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam và các cơ quan thông tin đại chúng tăng tần suất, thời lượng phát sóng, đưa tin kịp thời về diễn biến mưa, lũ, chỉ đạo ứng phó của các cơ quan chức năng, nhất là thông tin xả lũ đột xuất của các hồ chứa để các cơ quan và người dân biết, chủ động các biện pháp ứng phó, tránh tư tưởng chủ quan.

8. Các Bộ ngành khác theo chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước được giao có trách nhiệm chỉ đạo, phối hợp với các địa phương sẵn sàng triển khai phương án ứng phó với mưa lũ theo quy định.

9. Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống thiên tai tổ chức thường trực, theo dõi chặt chẽ diễn biến mưa, lũ; quyết định ban hành lệnh vận hành các hồ chứa thủy điện lớn theo Quy trình vận hành liên hồ chứa đã được cấp thẩm quyền phê duyệt, bảo đảm an toàn tuyệt đối cho công trình đầu mối, an toàn vùng hạ du, nâng cao hiệu quả phát điện; kịp thời chỉ đạo, đôn đốc của các Bộ, ngành và địa phương triển khai các biện pháp ứng phó; báo cáo Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo kịp thời những vấn đề vượt thẩm quyền./.

Nguồn http://www.baohoabinh.com.vn

Triển khai các chính sách quyết liệt để gắn hoạt động nghiên cứu khoa học với phát triển kinh tế - xã hội là một trong những giải pháp phát triển nguồn nhân lực KH&CN được PGS-TS Phạm Xuân Đà nhấn mạnh trong bài viết cho Khoa học và Phát triển.

Theo đó, PGS-TS Phạm Xuân Đà - Cục trưởng Cục Công tác phía nam, Bộ KH&CN -cho rằng cần có chính sách đánh giá hoạt động khoa học hay nhà khoa học dựa trên sản phẩm khoa học.
pgs ts pham xuan da 010
PGS-TS Phạm Xuân Đà - Cục trưởng Cục Công tác phía nam. Ảnh: Lê Loan
Nhân lực KH&CN nhiều nhưng chưa "chất"

So với quy mô dân số và với các nước trong khu vực, nguồn nhân lực KH&CN của Việt Nam không nhỏ, thậm chí số người có trình độ sau đại học khá lớn. Đến năm 2014, cả nước có khoảng 4,28 triệu người có trình độ từ cao đẳng, đại học trở lên, trong đó có khoảng 24.300 tiến sỹ. Gần 12.300 tiến sỹ hoạt động trong các lĩnh vực KH&CN, 41% trong số đó làm việc tại các trường đại học, cao đẳng.

Trong 101.000 thạc sỹ, có 35% làm việc tại các trường đại học, cao đẳng. So với năm 1996, đội ngũ có trình độ từ cao đẳng, đại học trở lên tăng hơn 4,6 lần (trung bình 11,6%/năm), trong đó số tiến sỹ tăng hơn 2,6 lần (7%/năm), số thạc sỹ tăng 6,7 lần (14%/năm). Tuy nhiên, cả nước chỉ có hơn 164.700 người tham gia hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D), trong đó số cán bộ có trình độ cao đẳng trở lên là gần 129.000 người. Nếu quy đổi toàn thời gian, tỷ lệ cán bộ R&D của Việt Nam chỉ đạt 7/10.000 dân.

Chất lượng nhân lực KH&CN còn thấp, thiếu các chuyên gia đầu ngành và nhân lực trình độ cao trong nhiều lĩnh vực; thiếu các nhóm nghiên cứu và tổ chức KH&CN mạnh, đủ khả năng giải quyết những vấn đề KH&CN lớn của quốc gia và hội nhập quốc tế.

Coi sản phẩm khoa học và tiêu chí đánh giá

Để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực KH&CN, Đảng và Nhà nước đã có rất nhiều chính sách ưu tiên, thúc đẩy hoạt động KH&CN với hiệu quả khá tốt. Tuy nhiên, để bắt kịp xu hướng phát triển của khu vực và thế giới, trong 5-10 năm tới tạo ra một đội ngũ nhân lực KH&CN trình độ cao, có khả năng dẫn dắt, làm chủ các lĩnh vực công nghệ mũi nhọn trong cách mạng công nghiệp 4.0, chính sách phát triển KH&CN cần có đột phá.

Cụ thể, cần sự thay đổi ở một số khía cạnh như: Cơ chế tài chính - hiện còn nhiều bất cập rất lớn về chế độ chi, định mức và thủ tục chi cho các hoạt động KH&CN; giảm thủ tục và tăng hiệu quả quản lý hoạt động KH&CN (hiện thủ tục vẫn rất chậm và phức tạp khiến nhiều doanh nghiệp KH&CN, nhà khoa học khó tiếp cận hay không muốn tham gia các chương trình hỗ trợ của Nhà nước).

NCKH0231

Nhóm chuyên viên phân tích tại Trung tâm Dịch vụ phân tích thí nghiệm TPHCM.
Ảnh: Vân Ly

Một đột phá cần thiết nữa là tăng đầu tư cho R&D - phần rất được chú trọng ở các nước phát triển, đơn cử Hà Lan chi trên 2% GDP cho R&D; trong khi đó ở Việt Nam, 2% GDP là mức đầu tư cho toàn bộ hoạt động phát triển KH&CN, phần lớn dành cho việc duy trì hệ thống quản lý, nhân lực, đầu tư hạ tầng, còn kinh phí thực sự cho R&D rất thấp.
 
Mặt khác, cần ngừng hành chính hóa công tác quản lý khoa học thông qua quá nhiều hội đồng, ban quản lý của bộ hay tỉnh/thành mang tính chất hành chính. Việc đánh giá hoạt động khoa học hay nhà khoa học cần được giao cho các cơ sở khoa học, nhà khoa học cùng ngành ở cấp độ quốc gia, khu vực và thế giới, đánh giá dựa trên sản phẩm khoa học. Cần loại bỏ việc gắn chức danh hành chính/quản lý nhà nước với chức danh của hội đồng thẩm định khoa học; tạo cơ chế cạnh tranh lành mạnh và trung thực giữa các nhà khoa học thông qua việc để chính các nhà khoa học cùng lĩnh vực phản biện và đánh giá kết quả nghiên cứu của nhau - điều mà cộng đồng khoa học quốc tế vẫn đang làm.
 
Gắn nghiên cứu với nhu cầu thực tiễn
 
Chúng ta đang gắn hoạt động nghiên cứu khoa học với nhu cầu của xã hội bằng cơ chế đặt hàng của các bộ, tỉnh, thành phố, bằng cách kết nối hoạt động nghiên cứu với nhu cầu phát triển của doanh nghiệp.
 
Hướng đi đúng đắn này cần được thực hiện quyết liệt và hiệu quả hơn nữa bằng những chương trình cụ thể, như chương trình “Khoa học đồng hành với đời sống”. Hiện mỗi vùng, miền đều có các sản phẩm được sản xuất thủ công và tự phát, có giá trị truyền thống và xã hội rất cao nhưng giá trị thương mại rất thấp do yếu về mẫu mã, chất lượng, tiêu chuẩn, thương hiệu...
 
Chính phủ cần có chính sách bắt buộc các đơn vị nghiên cứu hằng năm phải có tỷ lệ nghiên cứu nhất định về tiêu chuẩn hóa (nâng cao năng suất, chất lượng, mẫu mã), thương mại hóa các sản phẩm địa phương. Nhật Bản đã thực hiện rất thành công chương trình “Mỗi làng một sản phẩm” theo phương thức này.
 
Một chương trình cần chú trọng khác là xây dựng hệ sinh thái khởi nghiệp dựa trên đổi mới sáng tạo với việc điều chỉnh cơ chế, thủ tục tài chính theo hướng đơn giản, tiếp cận với các nước tiên tiến trong khu vực. Trong đó, phải đặc biệt chú trọng đối tượng doanh nghiệp và nguồn sáng tạo trong dân, bởi các nghiên cứu cho thấy, chỉ khoảng 5% hoạt động đổi mới sáng tạo diễn ra tại các viện, trường, 95% còn lại nằm trong khối các công ty, tư nhân...
 
Cần xây dựng lộ trình giảm, tiến tới xóa bao cấp hay phân bổ ngân sách nhà nước theo kế hoạch hành chính cho các cơ sở khoa học. Việc đầu tư ngân sách nhà nước cho các cơ sở nghiên cứu phải dựa vào các nhiệm vụ được Nhà nước đặt hàng (qua tuyển chọn công khai), các chương trình, dự án được doanh nghiệp đặt hàng và cấp tiền (thường từ 70% tổng chi phí trở lên) và nằm trong lĩnh vực Nhà nước khuyến khích nghiên cứu phát triển.
 
Thực hiện điều này, chúng ta phải chấp nhận sẽ có những cơ sở, nhà khoa học nhận được rất nhiều chương trình, dự án do uy tín và tài năng, trong khi nhiều cơ sở, nhà khoa học khác ít hoặc không nhận được dự án nào.
 
Chúng ta cần có chính sách giải thể các cơ sở khoa học nhà nước thường xuyên không nhận được đặt hàng hoặc số lượng đặt hàng quá ít, không đủ trang trải để giảm gánh nặng chi phí hành chính cho Nhà nước. Các cơ sở nghiên cứu tư nhân hoặc của các hiệp hội, tổ chức tự chịu trách nhiệm đương nhiên sẽ phải giải thể khi không bảo đảm kinh phí hoạt động.
 
Theo kinh nghiệm của một số nước phát triển, chính sách này sẽ giúp nhà nước tiết kiệm một khoản chi rất đáng kể để đầu tư mạnh cho các ngành nghiên cứu mũi nhọn, tạo ra các sản phẩm đột phá về công nghệ và giá trị kinh tế cho ngành, cho đất nước.
 
Ngoài ra, Nhà nước cần cho phép các nhà khoa học thuộc đơn vị nhà nước thành lập doanh nghiệp KH&CN, được ưu tiên về thuế và cơ sở vật chất để thương mại hóa các sản phẩm nghiên cứu; dành nguồn lực lớn đầu tư đồng bộ một vài ngành nghiên cứu mũi nhọn của đất nước theo hướng tạo ra các sản phẩm thương mại hóa có tính đột phá về công nghệ và giá trị kinh tế.

may thu hoach sanHiện nay, nhu cầu về sản phẩm sắn ở Việt Nam cho thị trường xuất khẩu và tiêu thụ nội địa là rất cao. Việt Nam sản xuất mỗi năm gần 10 triệu tấn sắn củ tươi, trong đó khoảng 70% dành cho xuất khẩu và 30% cho tiêu thụ trong nước. Việt Nam đã trở thành nước xuất khẩu tinh bột sắn thứ hai trên thế giới sau Thái Lan.

Vùng sản xuất nguyên liệu sắn thường có đặc điểm đất rộng và chủ yếu sử dụng lao động thủ công nên cho năng suất thấp và kế hoạch sản xuất không ổn định, thường xảy ra cảnh tranh mua, tranh bán nguyên liệu sắn giữa các nhà máy chế biến. Để chủ động về nguồn lao động, nguyên liệu cho các nhà máy chế biến, tăng chất lượng sản phẩm chế biến từ sắn, giảm chi phí sản xuất, tăng hiệu quả kinh tế, giữ vững được thương hiệu trên thị trường quốc tế. Nhu cầu đặt ra là phải tiến hành sản xuất sắn theo hướng cơ giới hóa đồng bộ từ canh tác tới thu hoạch bằng những máy móc hiện đại, có nhiều tính năng ưu việt nhất.
Vì thế, từ tháng 4/2013 đến tháng 1/2016, nhóm nghiên cứu tại Học viện Nông nghiệp Việt Nam doTS. Hà Đức Tháilàm chủ nghiệm, đã thực hiện đề tài: “Hoàn thiện thiết kế, công nghệ và chế tạo hệ thống máy canh tác và thu hoạch cây sắn”.
Một số kết quả của đề tài nghiên cứu:
1/ Đã lựa chọn, đề xuất được nguyên lý cấu trúc, tính toán, thiết kế, chế tạo được máy Xới - Phay cho phép máy khi làm việc phay nhỏ, trộn đều tàn dư thực vật tầng đất mặt độ sâu 15 cm có nhiều dinh dưỡng; xới sâu 25 cm phá vỡ tầng đất nền cứng thành tảng, tạo độ hổng trong đất để dự trữ nước mưa, dưỡng khí và cải tạo tầng đất nền để có nhiều dinh dưỡng cho củ sắn phát triển.
2/ Đã lựa chọn, đề xuất được nguyên lý, cấu trúc, tính toán, thiết kế, chế tạo được máy liên hợp cắt - trồng hom sắn có.
3/ Đã lựa chọn được cấu trúc, tính toán, thiết kế, chế tạo được máy Xới - Bón phân có bộ phận xới liên kết đàn hồi với khung cho phép khi làm việc do lực cản đất lên lưỡi xới không đều tạo ra rung động làm tơi đất tốt hơn. Bộ phận vun luống dạng đĩa chỏm cầu điều chỉnh được bề rộng và lượng đất vun vào gốc cây sắn. Bộ phận bón phân loại vít xoắn có lưỡi rạch bón phân đi sâu vào tầng đất củ cho phép phân ít bị rửa trôi do nước và gió.
4/ Đã lựa chọn, đề xuất được nguyên lý cấu trúc, tính toán, thiết kế, chế tạo được máy Đào - Nhổ củ sắn có.
Các máy được ứng dụng trên mô hình 100 ha tại Phúc Thịnh, Ngọc Lặc, Thanh Hóa. Hệ thống máy làm việc đạt các chỉ tiêu kỹ thuật đã đăng ký. Đặc biệt khi sử dụng hệ thống máy: chi phí lao động giảm 70%; chi phí sản xuất giảm 30%; Thời gian làm việc nhanh, kịp thời vụ do vậy năng suất cây trồng tăng cao.
Sau 3 năm thực hiện, đề tài đã cho ra đời 8 mẫu máy phục vụ cho nhiều công đoạn sản xuất sắn như: Cuốc vùi, xới phay, chuẩn bị hom sắn, băm thân lá sắn và đào nhổ củ sắn... Địa điểm thực hiện mô hình thử nghiệm tại hai tỉnh có sản xuất sắn tập trung là Ninh Bình và Đồng Nai, đã thu được nhiều kết quả khả quan. Tại Ninh Bình, mô hình được thực hiện tại xã Sơn Lai, huyện Nho Quan với diện tích sắn khoảng 20 ha, diện tích thực hiện cơ giới hóa đồng bộ các khâu khoảng 6 - 7 ha trong 2 năm. Tại diện tích ứng dụng cơ giới hóa đồng bộ của đề tài cây sắn phát triển tốt và cho năng suất cao.
Có thể tìm đọc báo cáo kết quả nghiên cứu (mã số 12821/2016) tại Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ quốc gia

Mô hình trồng nấm bằng bông đã rút sợi không chỉ cho sản phẩm có chất lượng dinh dưỡng cao hơn trồng bằng rơm rạ mà còn cho thu nhập lên tới hàng trăm triệu đồng.

Nam bong1212

Nhờ áp dụng khoa học công nghệ vào chuyển đổi cơ cấu sản xuất, ứng dụng giống tốt, thay đổi cơ cấu mùa vụ và quy trình thâm canh, giảm chi phí vật tư, tăng giá trị sản xuất, nâng cao chất lượng cây trồng, vật nuôi…, bà con nông dân đã góp phần phát triển kinh tế nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh Nghệ An.
Người đầu tiên và duy nhất ở Nghệ An cho đến thời điểm này trồng nấm thành công từ bông vỏ rút sợi là một người nông dân chưa từng học qua bất cứ trường, lớp đào tạo nào. Ông là Phạm Hùng Sơn, ở xóm 5, xã Nghi Kim (thành phố Vinh), là Chủ nhiệm Hợp tác xã nông nghiệp Thuận Phát. Không làm nấm rơm theo cách thông thường, ông quyết định trồng nấm bằng nguyên liệu bông đã rút sợi.
Theo ông Sơn, so với nấm rơm thông thường, nấm bằng nguyên liệu bông hàm lượng dinh dưỡng cao hơn gấp 4-5 lần, mức độ vệ sinh an toàn thực phẩm của nguyên liệu bông vải cũng tốt hơn rơm rạ.
Cùng với con trai, ông Sơn tự lên mạng tìm tài liệu, mua sách báo về nghiên cứu phương pháp làm nấm bằng nguyên liệu bông vải. Nguyên liệu bông sau khi đưa về phải trải qua nhiều công đoạn như xay, ủ vôi để loại bỏ vi sinh độc hại, đo nồng độ PH, canh nhiệt độ, độ ẩm, cấy mô giống...
Sau nhiều thử nghiệm, ông Phạm Hùng Sơn đã "chốt" thiết kế nhà nấm của mình dựng bằng khung sắt, phía trong bố trí 4 giàn rải nguyên liệu; mái và các vách được bọc bằng nhiều lớp vật liệu như giấy bạc, ni lông, lưới lan cắt nắng, xốp cách nhiệt, tôn xốp tản nhiệt... Tất cả nhằm duy trì ổn định môi trường nhiệt độ từ 30-32oC.
Để giữ đúng nhiệt độ, độ ẩm cho nhà trồng nấm, ông Sơn lắp đặt máy phun sương siêu âm. Nhờ duy trì môi trường ổn định, nấm bông của ông Sơn luôn đạt tỷ lệ 20%, tức là 1 tấn bông nguyên liệu cho ra đời 2 tạ nấm thành phẩm. Đây là tỷ lệ đáng mơ ước của những người trồng nấm.
Đến nay gia đình ông Sơn có 4 nhà trồng nấm. Hiện tại trên thị trường, 1kg nấm bông có giá hơn 100.000 đồng, sản phẩm của ông làm ra được các thương lái đến mua tận nơi, cung không đủ cầu. Mỗi mẻ nấm được làm trong vòng 20 ngày, lợi nhuận khoảng 50 triệu đồng.
“So với việc trồng các loại cây nông nghiệp khác thì trồng nấm mang lại hiệu quả kinh tế cao gấp hàng chục lần. Mỗi lứa nấm rơm gia đình thu hoạch 10 - 12 triệu/nhà nấm. Không những thế còn cho gia đình lượng phân bón rất nhiều. Hiện nay ngoài cung cấp lượng phân bón vi sinh trong nhà màng trồng nông sản sạch, gia đình còn bán cho các hộ trồng hoa và rau màu”, bà Nguyễn Thị Diệu - vợ ông Sơn cho biết.
Chưa dừng lại ở đó, trên diện tích hơn 1.000 m2đất của gia đình, ông Phạm Hùng Sơn tiếp tục đầu tư hơn 500 triệu đồng để làm nhà màng trồng nông sản sạch. Theo ông Sơn, việc xây dựng nhà màng có tác dụng giảm thiểu các tác động của thời tiết đối với cây trồng, ngăn sâu bọ phá hoại cây.
Bên cạnh đó, trồng cây theo công nghệ này không cần dùng đất mà dùng giá thể, tận dụng nguồn phân hữu cơ vi sinh từ nguyên liệu bông sau quá trình làm nấm để thay thế đất. Tại đây gia đình sẽ trồng dưa lưới, dâu tây, rau củ sạch hoàn toàn bằng công nghệ Ixrael. Cây được cung cấp dinh dưỡng bằng dung dịch thủy canh.
Năm đầu tiên trồng dưa lưới, gia đình ông Sơn trồng 1.700 gốc. Nhờ hệ thống nhà màng và tưới nhỏ giọt theo công nghệ Israel dẫn đến tận gốc theo đúng mức độ yêu cầu và hoàn toàn tự động, cây dưa phát triển tốt, quả to và hứa hẹn cho năng suất cao.
Giống dưa lưới Justin có xuất xứ từ Israel, từ lúc trồng cho đến thu hoạch khoảng 72 ngày. Dưa có vị ngọt đậm đà, ruột quả màu vàng cam hấp dẫn, quả dưa thuôn dài, vân lưới đều màu trắng rất đẹp mắt, trọng lượng mỗi quả 1,4 - 1,8kg.
Ông Phạm Hùng Sơn chia sẻ: Do được trồng theo công nghệ sạch nên hiện nay đầu ra sản phẩm rất thuận lợi, một tháng nữa mới đến kỳ thu hoạch nhưng các siêu thị và thương lái đã đến đặt mua cả vườn, dự kiến sau khi trừ chi phí thu lãi gần 100 triệu đồng.
“Lần đầu tiên ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất dưa lưới buộc chúng tôi phải tuân thủ mọi kỹ thuật mà chuyên gia Ixrael đề ra. Trong quá trình làm đòi hỏi người nông dân cần có sự tỷ mỉ, cần cù, chịu khó, thời gian nhiều hơn nhưng công việc lại nhẹ trong việc chăm sóc cây trồng. Tuy nhiên, hiệu quả mang lại khá cao”, ông Phạm Hùng Sơn cho biết.
Từ hiệu quả từ mô hình trồng dưa lưới trong nhà màng hay trồng nấm rơm từ bông sợi của Hợp tác xã nông nghiệp Thuận Phát, thời gian tới, thành phố Vinh có kế hoạch nhân rộng thêm nhiều mô hình sản xuất nông sản ứng dụng công nghệ cao, qua đó tạo ra sản phẩm sạch cung ứng cho thị trường.
Tỉnh Nghệ An cũng xác định, đưa khoa học công nghệ vào trong nông nghiệp phải áp dụng cho từng mô hình ở từng vùng miền cụ thể để người dân triển khai được và đưa ra sản phẩm có chất lượng cao, giá thành hạ, phát triển bền vững, góp phần nâng cao thu nhập cho nông dân trong xây dựng nông thôn mới.
Hiện tỉnh Nghệ An chỉ đạo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Khoa học và Công nghệ tăng cường chỉ đạo, hướng dẫn cho bà con, chủ động phối hợp với các doanh nghiệp làm tốt mối liên kết trong sản xuất.
Nghệ An đang kêu gọi, thu hút doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp nông thôn cùng với việc thực hiện chính sách ưu đãi như miễn tiền thuê đất, chính sách ưu đãi về thuế, có như vậy nông nghiệp Nghệ An mới phát triển bền vững - ông Đinh Viết Hồng, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nghệ An cho biết.
“Trong giai đoạn 2017-2020, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chỉ đạo các địa phương tập trung ứng dụng khoa học công nghệ trong nông thôn mới gắn với doanh nghiệp, gắn với hợp tác xã, trở thành chuỗi sản phẩm có giá trị, nâng cao đời sống người dân; khuyến khích các doanh nghiệp tham gia vào mô hình liên kết sản xuất để mang lại hiệu quả thiết thực cho các hộ dân trong xã thực hiện nông thôn mới. Chính mô hình này thể hiện rõ nhất liên kết 4 nhà, trong đó phải đẩy mạnh mô hình doanh nghiệp - người sản xuất thông qua tổ chức đại diện của người nông dân đó là hợp tác xã và tổ hợp tác, tạo thành chuỗi giá trị từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm” - Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Trần Thanh Nam khẳng định.

Tìm kiếm...

Thông báo mới

Quy định cơ chế tự chủ của tổ chức KH&CN công lập. Nghị định số 54/2016/NĐ-CP


Quyết định về việc công bố thủ tục hành chính đã chuẩn hóa thuôc phạm vi chức năng quản lý của Sở Khoa học và Công nghệ Hòa Bình


Quy định cơ chế tự chủ của tổ chức KH&CN công lập. Nghị định số 54/2016/NĐ-CP


Quyết định về việc công bố thủ tục hành chính đã chuẩn hóa thuôc phạm vi chức năng quản lý của Sở Khoa học và Công nghệ Hòa Bình


Quy định cơ chế tự chủ của tổ chức KH&CN công lập. Nghị định số 54/2016/NĐ-CP


Quyết định về việc công bố thủ tục hành chính đã chuẩn hóa thuôc phạm vi chức năng quản lý của Sở Khoa học và Công nghệ Hòa Bình


Quy định cơ chế tự chủ của tổ chức KH&CN công lập. Nghị định số 54/2016/NĐ-CP


Quyết định về việc công bố thủ tục hành chính đã chuẩn hóa thuôc phạm vi chức năng quản lý của Sở Khoa học và Công nghệ Hòa Bình


Quy định cơ chế tự chủ của tổ chức KH&CN công lập. Nghị định số 54/2016/NĐ-CP


Quyết định về việc công bố thủ tục hành chính đã chuẩn hóa thuôc phạm vi chức năng quản lý của Sở Khoa học và Công nghệ Hòa Bình


Quy định cơ chế tự chủ của tổ chức KH&CN công lập. Nghị định số 54/2016/NĐ-CP


Quyết định về việc công bố thủ tục hành chính đã chuẩn hóa thuôc phạm vi chức năng quản lý của Sở Khoa học và Công nghệ Hòa Bình


Quy định cơ chế tự chủ của tổ chức KH&CN công lập. Nghị định số 54/2016/NĐ-CP


Quyết định về việc công bố thủ tục hành chính đã chuẩn hóa thuôc phạm vi chức năng quản lý của Sở Khoa học và Công nghệ Hòa Bình


Quy định cơ chế tự chủ của tổ chức KH&CN công lập. Nghị định số 54/2016/NĐ-CP


Quyết định về việc công bố thủ tục hành chính đã chuẩn hóa thuôc phạm vi chức năng quản lý của Sở Khoa học và Công nghệ Hòa Bình



bkhcn
DCS-VN chinh-phu
tap chi KHCN Báo Khoa học & Phát triển
NASATI Varans
khoahoctot  

Thống kê truy cập

0875549
Hôm nay
Hôm qua
Tuần này
Tuần trước
Tháng này
Tháng trước
Tất cả các ngày
78
669
3909
866233
15827
33498
875549

Your IP: 192.168.51.1
2017-10-21 02:45