DO LUONG

ung dung

thong ke

DOLUONG

QUYPHAT

THUVIENKHCN
cam cao phong
Untitled2

Lạc là loại hạt có dầu chiếm vị trí quan trọng trong nhóm hạt có dầu trên thế giới, nó thuộc loại cây trồng thích hợp với khí hậu nhiệt đới như ở Việt Nam. Hàng năm ở nước ta đã sản xuất khoảng 450 nghìn tấn lạc, phần lớn số lạc này được dùng để xuất khẩu, năm 1991 xuất khẩu đứng thứ 3 thế giới (sau Mỹ và Trung Quốc). Theo số liệu của tổng cục thống kê sản lượng lạc cả nước năm 2000 đạt khoảng 355,3 nghìn tấn đến năm 2015 sản lượng lạc khoảng 451,8 nghìn tấn tăng 78,6% như vậy sản lượng tăng lên tương đối nhanh. Hiện tại đã xuất hiện nhiều vùng trồng lạc quy mô lớn như: Tuyên Quang, Nghệ An, Quảng Trị,…

Hat giong quy mo ncdb 15871
Ở nước ta với khí hậu nhiệt đới nóng ẩm, mùa thu hoạch chủ yếu lại vào mùa mưa nên rất dễ bị nấm mốc và mọt xâm nhập, phá hoại. Do vậy, trong quá trình bảo quản và chế biến lạc rất dễ bị hư hỏng, đây là một khó khăn rất lớn trong công việc bảo quản đối với những người sản xuất cũng như trong quá trình sử dụng. Bởi vậy hàng năm đã gây những tổn hại, lãng phí không nhỏ về kinh tế và công sức trong việc xuất khẩu và tiêu dùng nội địa.

Mặc dù gần đây ở một số doanh nghiệp, cơ sở chế biến nông sản đã ứng dụng công nghệ cao, đưa vào một số thiết bị ứng dụng trong sấy chế biến nông sản nói chung và sấy chế biến lạc giống nói riêng, tuy nhiên chất lượng sản phẩm vẫn còn thấp. Để nâng cao phẩm cấp giá trị của lạc giống ngoài việc đánh giá qua độ ẩm sản phẩm sau khi sấy mà còn đánh giá trên chỉ tiêu độ sạch của sản phẩm. Bởi vậy, trên cơ sở nghiên cứu hệ thống thiết bị sấy nói chung Viện nghiên cứu thiết kế chế tạo máy nông nghiệp (RIAM) có nghiên cứu thiết kế chế tạo máy sàng phân loại và làm sạch cho lạc giống theo nguyên lý phân loại theo kích thước sử dụng trong dây chuyền sấy lạc giống song loại này cho thấy độ sạch của sản phẩm chưa cao, còn lẫn nhiều tạp chất. Chính vì thế Viện RIAM doThS. Nguyễn Văn Tiếnmạnh dạn đề xuất nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu, tính toán, thiết kế, chế tạo máy sàng làm sạch và phân loại lạc giống năng suất 1-1,2 tấn/h trong dây chuyền sấy lạc giống quy mô công nghiệp” nhằm có được các dây chuyền thiết bị tiên tiến, đồng bộ với giá thành thấp, chế biến ra các loại hạt giống chất lượng cao, giảm bớt nhập khẩu để cải tiến thiết bị nâng cao chất lượng sản phẩm phù hợp với mô hình quy mô công nghiệp.

Các nội dung chính bao gồm:
- Nghiên cứu tổng quan tình hình trồng và phát triển lạc trong và ngoài nước. Nghiên cứu tổng quan các thiết bị phân loại và làm sạch nông sản nói chung và lạc giống nói riêng hiện nay.
- Nghiên cứu cơ sở lý thuyết tính toán sàng phân loại theo kích thước kết hợp khí động.
- Thiết kế, chế tạo sàng phân loại làm sạch năng suất 1÷1,2 tấn/h;
- Khảo nghiệm hiệu chỉnh thiết kế;

Sau một thời gian triển khai, nhóm nghiên cứu thu được các kết quả như sau:
- Đã nghiên cứu tổng quan về tình hình trồng và sản xuất lạc trên Thế Giới và ở Việt Nam;
- Đã nghiên cứu/tìm hiểu thiết bị phân loại làm sạch nông sản nói chung và phân loại lạc nói riêng trên Thế Giới và ở Việt Nam;
- Đã tính toán, thiết kế được thiết bị phân loại và làm sạch lạc giống năng suất 1 - 1,2 tấn/h;
- Đã chế tạo tại Viện RIAM và đưa ra được mẫu thiết bị mới với nguyên lý phân loại theo kích thước kết hợp với khí động đã được cải tiến để phù hợp với đối tượng phân loại là lạc củ, thiết bị có nhiều ưu điểm so với các thiết bị hiện có như: năng suất thiết bị cao, tỷ lệ làm sạch cao, giảm thiểu ô nhiễm môi trường, chi phí nhân công thấp, chi phí điện năng thấp.
- Đã khảo nghiệm tại cơ sở chế biến lạc giống đạt năng suất thiết bị 1-1,2 tấn/giờ, độ sạch đạt 97,76%.
- Đã khảo nghiệm trên mô hình lý thuyết tối ưu quy hoạch hóa thực nghiệm và tìm ra chế độ công nghệ tối ưu cho quá trình phân loại/làm sạch như: năng suất 1,2 tấn/h; số vòng quay 400 vòng/phút; lưu lượng quạt 2514,76 m3/h; góc nghiêng sàng 5o.
- Mẫu máy đã được khảo nghiệm và đạt các chỉ tiêu về thông số kỹ thuật yêu cầu đặt ra. Tuy nhiên cần phát triển, hoàn thiện để chế tạo mẫu thiết bị có năng suất lớn ứng dụng trong dây chuyền chế biến nông sản quy mô công nghiệp. Ngoài ra, có thể ứng dụng nguyên lý của máy sàng kiểu này đối với các loại nguyên liệu khác như lúa, ngô,...

Có thể tìm đọc toàn văn Báo cáo kết quả nghiên cứu của Đề tài (Mã số 14645/2018) tại Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia.

Cây lúa cung cấp đến 90% sản lượng gạo xuất khẩu của cả nước, có thời điểm, xuất khẩu gạo mang về 3,67 tỷ USD cho nền kinh tế quốc dân. Lúa gạo ở Việt Nam, đặc biệt là ở đồng bằng sông Cửu Long, tiếp tục được khẳng định là vấn đề đảm bảo an ninh lương thực quốc gia, mang tầm quốc tế. Lúa gạo đóng vai trò không thể thay thế được trong nông nghiệp Việt Nam - trụ đỡ của nền kinh tế với giá trị xuất khẩu từ nông nghiệp chiếm trên 32 tỷ USD năm 2016; đồng thời có tới 70% dân số cả nước sống ở nông thôn; gần 50% lao động cả nước thuộc lĩnh vực kinh tế nông nghiệp7. Tuy nhiên, hiện nay, ngành lúa gạo việt Nam đang đối mặt với nhiều khó khăn thách thức, đặc biệt là hiệu quả chuỗi giá trị còn thấp do năng suất lao đông thấp, giá thành cao, tỷ lệ thất thoát cao, chất lượng gạo xuất khẩu còn thấp.Thực trạng sản xuất nhỏ lẻ, manh mún ruộng đất đang là trở ngại đối với việc nâng cao năng suất lao động, phát triển sản xuất lớn, thực hiện tái cơ cấu kinh tế.

Lua DBSCL fgf3201
Nhằm đánh giá thực trạng cánh đồng lớn; thực trạng quy hoạch, thiết kế cánh đồng lớn trong sản xuất lúa vùng đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long. Đồng thời, nghiên cứu xây dựng bộ tiêu chí quy hoạch, thiết kế cánh đồng lớn sản xuất lúa đáp ứng cơ giới hóa sản xuất, thâm canh, tiết kiệm chi phí phục vụ xây dựng nông thôn mới vùng đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long cũng như đề xuất giải pháp thực hiện quy hoạch, thiết kế cánh đồng lớn trong sản xuất lúa vùng đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long, nhóm nghiên cứu doPGS. TS Đoàn Doãn Tuấn, Viện Nước, tưới tiêu và môi trường đứng đầu đã tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu đề xuất bộ tiêu chí quy hoạch, thiết kế cánh đồng lớn sản xuất lúa gắn với xây dựng nông thôn mới tại đồng bằng sông Hồng và ĐB sông Cửu Long”.

Sau một thời gian triển khai, nhóm nghiên cứu đã thu được các kết quả như sau:
- Đánh giá thực trạng cánh đồng mẫu lớn, thực trạng quy hoạch, thiết kế cánh đồng lớn trong sản xuất lúa (hệ thống canh tác, quy mô vùng, ô thửa, hệ thống công trình hạ tầng thủy lợi, giao thông nội đồng); tại 8 điểm vùng ĐB sông Hồng và ĐB sông Cửu Long
- Xây dựng được bộ tiêu chí quy hoạch, thiết kế cánh đồng lớn sản xuất lúa đáp ứng cơ giới hóa sản xuất, thâm canh, tiết kiệm chi phí phục vụ xây dựng nông thôn mới tại các vùng sinh thái chủ yếu của vùng sản xuất lúa ĐB sông Hồng và ĐB Sông Cửu Long.
- Đề xuất giải pháp thực hiện quy hoạch, thiết kế cánh đồng lớn tiết kiệm nước giảm chi phí đầu vào tăng hiệu quả sản xuất lúa
- Mẫu thiết kế mô hình cánh đồng lớn cho vùng ĐB sông Hồng
- Mẫu thiết kế mô hình cánh đồng lớn cho vùng ĐB sông Cửu Long
- Sổ Tay hướng dẫn quy trình quy hoạch, thiết kế cánh đồng lớn sản xuất lúa tại Đồng bằng sông Hồng và ĐB sông Cửu Long
- Tổ chức tập huấn nâng cao năng lực cộng đồng về quy hoạch, thiết kế cánh đồng mẫu lớn sản xuất lúa tại ĐBSH và ĐBSCL.

Thực tế triển khai mô hình cánh đồng lớn sản xuất lúa cho thấy hiệu quả kinh tế xã hội như sau:
Do diện tích nhỏ lẻ, manh mún nên việc xây dựng cánh đồng lớn tại ĐB Sông Hồng luôn gắn với dồn điền, đổi thửa. Từ năm 2009 đến nay thực hiện chương trình quốc gia về xây dựng nông thôn mới, các địa phương đã đồng loạt triển khai công tác dồn điền đổi thửa nên nhìn chung cấu trúc đồng ruộng ở ĐBSH đã được cải thiện nhiều so với trước năm 2000, diện tích trung bình các thửa ruộng lớn hơn gấp 3-5 lần. ĐBSH số thửa đất bình quân chỉ còn 2-3 thửa/hộ, diện tích các ô thửa trung bình từ 0,1-0,2 ha.

Nhìn chung hệ thống kênh tưới cấp trên của kênh mặt ruộng không có sự thay đổi sau khi thực hiện dồn điền đổi thửa. Tại tỉnh Nam Định, Thái Bình, Hưng Yên, khoảng cách giữa các kênh mương cấp III có nhiệm vụ tưới tiêu kết hợp là 100m, khi quy hoạch lại dồn điền đổi thửa địa phương thường bổ sung thêm đường lô vào giữa, do vậy chiều rộng lô (chiều dài thửa) là 50m. Chiều dài lô ruộng phụ thuộc vào khoảng cách của các kênh tưới tiêu cấp cao hơn (kênh cấp II), như ở Nam Định khoảng 450800 m, Thái Bình 300-600m, Hưng Yên 250-350m. Do quy mô hộ nhỏ, việc dồn điền đổi thửa, xây dựng cánh đồng lớn dựa trên cơ sở hệ thống kênh mương đã có nên phần lớn thửa ruộng có chiều rộng 20-40 m và chiều dài 50-100 m. Lô ruộng có chiều rộng xác định theo khoảng cách hai kênh cấp cuối cùng và là chiều dài thửa ruộng (50-100 m). Chiều dài lô là khoảng cách hai kênh cấp trên, dài trung bình 300-600 m. Như vậy cánh đồng thường có kích thước 3 - 6 ha.

Đồng bằng sông Cửu Long, với quy mô diện tích đất lúa bình quân 1 hộ tương đối lớn, với số hộ có diện tích trên 0.5 ha chiếm trên 60% là lợi thế để xây dựng “cánh đồng lớn”. Hiện tại, các khu ruộng được quy hoạch với chiều rộng dựa vào khoảng cách của hai kênh nội đồng (cấp III) và chiều dài là khoảng cách giữa hai kênh cấp trên. Trung bình khoảng cách giữa các kênh cấp III khoảng 300-600m. Chiều dài khu ruộng là ranh giới giữa kênh cấp II và đê bao vùng khoảng cách từ 500 - 1500m.

Việc xây dựng cánh đồng lớn dựa trên cơ sở hệ thống kênh mương đã có nên phần lớn thửa ruộng có chiều rộng 20-50 m và chiều dài 150-300 m. Lô ruộng có chiều rộng xác định theo khoảng cách hai kênh cấp cuối cùng và là chiều dài thửa ruộng (150-300 m). Chiều dài lô là khoảng cách hai kênh cấp trên, dài trung bình 500-1500 m.

Cơ sở khoa học và thực tiễn xây dựng cánh đồng lớn sản xuất lúa trong nước và trên thế giới cho thấy để triển khai xây dựng và nhân rộng cánh đồng lớn sản xuất lúa vùng ĐB sông Hồng và ĐB sông Cửu Long thành công, cần tuân thủ tiêu chí và giải pháp thực hiện cánh đồng lớn sản xuất lúa như sau:
i) CĐL phải được xây dựng trên nền tảng của sự liên kết, trong đó các hình thức liên kết được thể hiện thông qua hợp đồng giữa các tổ chức, doanh nghiệp với HTX hoặc tổ hợp tác sản xuất.
ii) Việc lựa chọn hệ thống cánh tác CĐL trồng lúa ĐBSH chỉ bố trí ở các chân đất cấy 2 vụ lúa (lúa xuân-lúa mùa) ăn chắc hoặc trên các chân đất cấy 2 vụ lúa và làm 1 vụ đông (lúa xuân-lúa mùa – cây vụ đông). Trên các chân đất này năng lực tưới tiêu của các công trình thủy nông phải đảm bảo. Đối với ĐBSCL: Chỉ bố trí CĐL trồng lúa trên các chân đất từng làm 2 vụ lúa hay 3 vụ lúa nhưng chỉ sản xuất 2 vụ lúa/năm. không nên bố trí CĐL trên chân đất tôm-lúa vì dễ gặp rủi ro vì đất nhiễm mặn.
iii) Việc lựa chọn máy móc cơ giới hóa cần thực hiện trên cơ sở tiến trình tích tụ ruộng đất theo hai bước:
Bước 1. Với quy hoạch diện tích lô thửa chưa lớn (diện tích mỗi thửa 1500-3000 m2, chiều dài (50-100 m), rộng (20-40) m).
Bước 2. Khi quy hoạch diện tích lô thửa đủ lớn (diện tích mỗi thửa 1.-2 ha, chiều dài (100) m, rộng (30-90) m)
iv) Đối với quy hoạch kích thước lô thửa ruộng, giao thông thủy lợi nội đồng cũng cân thực hiện phù hợp với hai bước:
Bước 1. Qui hoạch đồng ruộng phù hợp với thực tế của một số địa phương và hệ thống máy móc cơ giới phù hợp để sử dụng hiệu quả nhất cho giai đoạn trước mắt
Bước 2. Qui hoạch đồng ruộng cho tương lai, khi có đủ điều kiện tích tụ ruộng đất, qui mô cánh đồng mẫu lớn, áp dụng CGH mức độ cao theo hướng sản suất hàng hóa.

Áp dụng tiêu chí quy hoạch, thiết kế cánh đồng lớn vảo thiết kế mô hình mẫu vùng ĐB sông Hồng cho thấy do ruộng đất manh mún, quy mô hộ nhỏ nên vùng ĐB sông Hồng phải xây dựng kênh mương, đường giao thông với mật độ khá lớn dẫn đến suất đầu tư cao, khoảng 150-200 triệu đồng/ha đối với phương án hiện tai, chưa đủ điều kiện để tích tụ ruông đất, kênh mặt ruộng thực hiện tưới tiêu kết hợp, nên chưa đáp ứng yêu cầu thâm canh lúa. Kinh phí đầu tư/ha trong phương án tương lai, khi đủ điều kiện tích tụ ruộng đất, kênh mặt ruộng đảm bảo tưới tiêu tách biệt, chủ động cấp nước đáp ứng nhu cầu thâm canh, chỉ cao hơn phương án đầu tư trong điều kiện chưa tích tụ được ruộng đất hiện nay khoảng 10 triệu đ/ha.

Tại ĐB sông Cửu Long, quy mô hộ lớn, tạo điều kiện để xây dựng ô thửa lớn, khoảng cách kênh và đường giao thông nội đồng cũng lớn nên suất đầu tư xây dựng cánh đồng lớn sản xuất lúa khoảng 70 triệu đ/ha, chưa bằng một nửa suất đầu tư vùng ĐB sông Hồng. Như vậy ruộng đất nhỏ lẻ là một khó khăn trở ngại không những trong liên kết, tổ chức sản xuất mà còn trong nhu cầu kinh phí đầu tư lớn và hiệu quả đầu tư thấp khi xây dựng cánh đồng lớn, sản xuất lúa.

Từ những kết quả đạt được, nhóm nghiên cứu khuyến nghị một số giải pháp về cơ chế chính sách như sau:
i). Đối với Chính phủ và các Bộ, Ngành
- Tạo môi trường thuận lợi để thúc đẩy liên kết thông qua cơ chế, chính sách và chỉ đạo, tổ chức thực hiện.
- Bộ Nông nghiệp trình chính phủ sửa đổi bổ sung khắc phục những hạn chế của QĐ 62 và TT15, bổ sung “tổ hợp tác” vào đối tượng áp dụng.
- Bộ tài chính nghiên cứu trình chính phủ bố trí nguồn kinh phí cho các địa phương để triển khai, xây dựng chính sách hỗ trợ theo QĐ 62.
- Bộ Công Thương và Bộ NN tiếp tục chỉ đạo, hướng dẫn về vùng nguyên liệu xuất khẩu gạo. Xây dựng hệ thống thông tin và dự báo về sản xuất và thị trường thống nhất từ trung ương đến địa phương.
ii). Đối với các địa phương
- Tiếp tục thực hiện hoàn thành dồn điền đổi thửa, xây dựng, nâng cấp hệ thống thủy lợi, giao thông nội đồng tạo điều kiện để phát triển vùng nguyên liệu, xây dựng cánh đồng lớn.
- Khuyến khích thành lập, củng cố phát triển tổ chức đại diện nông dân (Hợp tác xã, Tổ hợp tác) trong liên kết sản xuất và tiêu thụ với doanh nghiệp, đặc biệt ở các vùng định hướng xây dựng cánh đồng lớn.
- Xây dựng mỗi tỉnh một số mô hình điểm áp dụng liên kết sản xuất theo Quyết định 62 của thủ tướng chính phủ về chính sách khuyến khích phát triển hợp tác, liê kết sản xuất gắn với tiêu thụ sản phẩm nông sản để rút kinh nghiệm ra diện rộng iii). Đối với doanh nghiệp và HTX
- Các doanh nghiệp xây dựng dự án/phương án cánh đồng lớn trình UBND tỉnh phê duyệt
- Các doanh nghiệp đóng vai trò chủ đạo gắn nông dân với thị trường, cung ứng đầu vào và tiêu thụ sản phẩm đầu ra. Doanh nghiệp cần tham gia ngay từ đầu vụ sản xuất và xây dựng vùng nguyên liệu ổn định để nông dân an tâm sản xuất theo đơn đặt hàng của doanh nghiệp. Liên kết giữa doanh nghiệp cần thực hiện khép kín từ cung ứng vật tư đến tiêu thụ sản phẩm. Củng cố và phát huy hiệu quả của các hoạt động của nhóm cán bộ kỹ thuật hướng dẫn nông dân thực hiện các tiến bộ khoa học kỹ thuật trong canh tác để nâng cao hiệu quả sản xuất và nâng cao tỉ lệ thành công của hợp đồng ký giữa doanh nghiệp và người sản xuất lúa gạo
- Nông dân liên kết trong tổ hợp tác, hợp tác xã, doanh nghiệp để tạo vùng sản xuất tập trung, sản xuất theo đơn đặt hàng của doanh nghiệp, đúng quy trình kỹ thuật.
- Hợp tác xã, tổ hợp tác có vai trò liên kết nông dân, là cầu nối giữa nông dân với doanh nghiệp.

Có thể tìm đọc toàn văn Báo cáo kết quả nghiên cứu của Đề tài (Mã số 14648/2018) tại Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia.

Đông trùng hạ thảo Cordyceps militaris là một loài nấm ký sinh trên côn trùng có giá tri dược liệu quan trọng tự như nấm Cordyceps sinensis và được sử dụng nhiều trong y học cổ truyền. Các tác dụng chính của vị thuốc quý hiếm bậc nhất này cũng được các nghiên cứu khoa học hiện đại chỉ ra như: Làm hạ huyết áp ở người cao huyết áp; Chống lại hiện tượng thiếu máu ở cơ tim; Chống lại tác dụng xấu của các tân dược đối với thận; Bảo vệ thận trong trường hợp gặp tổn thương do thiếu máu; Chống lại sự suy thoái của thận, xúc tiến việc tái sinh và phục hồi các tế bào tiểu quản ở thận; Tăng cường dịch tiết trong khí quản và trừ đờm; Làm giảm cholesterol trong máu và chống xơ vữa động mạch; Xúc tiến tác dụng của các nội tiết tố, thúc đẩy tế bào lá lách tiết ra insulin; Giữ ổn định nhịp đập của tim; Tăng cường miễn dịch không đặc hiệu… Thậm chí, trùng thảo còn có tác dụng làm chậm quá trình lão hóa của cơ thể, hạn chế bệnh tật của tuổi già, có tác dụng cường dương và chống liệt dương. Gần đây, các nhà y học còn phát hiện trùng thảo có tác dụng ức chế trực khuẩn lao rất rõ rệt. Đông trùng hạ thảo còn có tác dụng nâng cao chức năng miễn dịch của tế bào có công hiệu điều trị nhất định đối với bệnh nhân viêm gan B, ngăn chặn xơ gan (Seulmee et al., 2009; Shonkor, 2010).

TT ha tho 95412
Đông trùng hạ thảo hiện nay có các loại: Trên xác côn trùng (thu hái trong tự nhiên và nhân tạo) và không trên xác côn trùng (lên men). Loại thứ nhất thu hái trong tự nhiên, hiện rất hiếm và đắt. Loại thứ hai nuôi cấy nhân tạo trong môi trường tự nhiên theo một qui trình riêng có thể sản xuất đại trà và đây là hướng mà Trung Quốc và Hàn Quốc đã và đang làm lâu nay. Còn loại thứ ba nuôi cấy bằng phương pháp lên men được thực hiện trong phòng thí nghiệm với những thiết bị hiện đại.

Khác với nấm Cordyceps sinensis với sản lượng rất ít và chỉ mọc trong tự nhiên, nấm Cordyceps militaris có thể được nuôi trồng trong điều kiện nhân tạo.

Hiện nay, nhiều loài nấm thuộc chi Cordyceps được nuôi trồng trên quy mô công nghiệp để tinh chế các chất có dược tính. Các sản phẩm thuốc và thực phẩm chức năng từ nấm Cordyceps militaris chiếm thị trường rất lớn trên thế giới.

Do giá trị dược liệu, giá trị kinh tế cao và tính khả thi của việc nuôi nấm Cordyceps militaris ở quy mô lớn, việc phát triển các nghiên cứu về nuôi trồng nấm Cordyceps militaris nhằm tăng quy mô sản xuất, đáp ứng nhu cầu của thị trường trong nước và chuyển giao công nghệ cho các đơn vị sản xuất để đem lại lợi ích kinh tế cho địa phương là hết sức cần thiết. Xác định khu vực thích hợp và nuôi trồng thành công Đông trùng hạ thảo trên tằm dâu tại các tỉnh Sơn La, Điện Biên, Lai Châu không chỉ mang lại lợi ích kinh tế (giảm được giá thành cho phù hợp với người sử dụng, tăng GDP cho địa phương, đặc biệt là ổn định thu nhập cho người dân tái định cư), mà còn có giá trị khoa học (bổ sung nguồn gen mới, quý cho khu vực) đồng thời mở rộng vùng nguyên dược liệu có giá trị cho khu vực, góp phần đảm bảo an ninh xã hội.

Với tất cả các lí do trên,Phạm Văn Nhãcùng các đồng nghiệp đến từ trường Đại học Tây Bắc đã thực hiện đề tài “Nghiên cứu nuôi trồng thử nghiệm Đông trùng hạ thảo trên tằm dâu tại 3 tỉnh Sơn La, Điện Biên, Lai Châu”. Đề tài đóng vai trò hết sức cần thiết, đóng góp vào sự phát triển của khu vực Tây Bắc.

Sau đây là một số kết quả đáng chú ý mà dự án của nhóm tác giả đã thu được:
(1) Đã xác định được tính thích nghi của Đông trùng hạ thảo C. militaris trên tằm dâu (nhộng tằm dâu) tại các địa điểm có điều kiện tự nhiên như độ cao từ 800 m trở lên, nhiệt độ trung bình năm 20 - 25 độ C, độ ẩm 70 - 80%; cụ thể là 4 địa điểm (Mường É, Co Mạ - Thuận Châu - Sơn La; Tỏa Tình - Tuần Giáo - Điện Biên; Sơn Bình - Tam Đường - Lai Châu) và các địa điểm có điều kiện tương đương.
(2) Đã xây dựng được 3 quy trình nuôi trồng Đông trùng hạ thảo C. militaris với chủng NBRC 100741 trên tằm dâu ở các quy mô khác nhau:
- Quy mô phòng thí nghiệm gồm 6 bước (1- Nuôi cấy và bảo quản giống nấm C. militaris; 2- Tạo nguồn giống nấm C. militaris; 3- Cây giống lên giá thể nhộng tằm khử trùng hoặc bột nhộng tằm bổ sung gạo lứt, cao nấm men, pepton; 4- Tạo hệ sợi trong điều kiện nhiệt độ 20-25 độ C, độ ẩm 80-90%; 5- Tạo thể quả trong điều kiện nhiệt độ 20-25 độ C, độ ẩm 80-90%, ánh sáng đèn trắng của đèn compact có cường độ 7001000 lx, thời gian chiếu sáng 12 giờ; 6- Thu hoạch khi đạt kích thước 7-8 cm, đầu nhọn và bảo quản bằng sấy thăng hoa, tránh ánh sáng).
- Quy mô phòng pilot gồm 7 bước (1- Tạo nguồn giống nấm C. militaris; 2- Cấy giống lên giá thể bột nhộng tằm bổ sung gạo lứt, cao nấm men, pepton; 3- Tạo hệ sợi trong điều kiện nhiệt độ 20-25oC, độ ẩm 80-90%; 4- Tạo thể quả trong điều kiện nhiệt độ 20-25oC, độ ẩm 80-90%, ánh sáng đèn trắng của đèn compact có cường độ 7001000 lx, thời gian chiếu sáng 12 giờ; từ bước 1-4 diễn ra trong PTN; 5- Vận chuyển tới các pilot ở các địa phương; 6- Duy trì sự sinh trưởng của thể quả; 7- Thu hoạch khi đạt kích thước 7-8 cm, đầu nhọn và bảo quản bằng sấy ở 40oC hoặc sấy thăng hoa, tránh ánh sáng).
- Quy mô phòng hộ gia đình gồm 7 bước (1- Tạo nguồn giống nấm C. militaris; 2- Cây giống lên giá thể bột nhộng tằm bổ sung gạo lứt, cao nấm men, pepton; 3- Tạo hệ sợi trong điều kiện nhiệt độ 20-25oC, độ ẩm 80-90%; 4- Tạo thể quả trong điều kiện nhiệt độ 20-25oC, độ ẩm 80-90%, ánh sáng đèn trắng của đèn compact có cường độ 700-1000 lx, thời gian chiếu sáng 12 giờ; từ bước 1-4 diễn ra trong PTN; 5- Vận chuyển tới các nhà nuôi ở các địa phương có điều kiện tự nhiên thích hợp được lựa chọn; 6- Duy trì sự sinh trưởng của thể quả (tháng 3-11: sử dụng nhiệt độ tự nhiên); 7- Thu hoạch khi đạt kích thước 7-8 cm, đầu nhọn và bảo quản bằng sấy ở 40oC hoặc sấy thăng hoa, tránh ánh sáng).
Sản phẩm thu được từ các quy trình được xác định có thành phần hoạt chất trung bình là 0,46 mg/g adenosin, 10,56 mg/g cordycepin, thành phần có giá trị dinh dưỡng là 78,76 mg/g amino acid tự do tổng số trong thể quả và 153,535 mg/g trong hệ sợi, acid béo không no trên 70% tổng số acid béo, chủ yếu là linoleic acid.
(3) Trong 3 tỉnh được lựa chọn, hiệu quả kinh tế từ nuôi Đông trùng hạ thảo C. militaris tại tỉnh Lai Châu cao hơn Điện Biên và Sơn La (từ 174 000 đến 203 000 đồng/bình/2 tháng). Khả năng nhận thức, áp dụng mô hình pilot và hộ gia đình của người dân tại tỉnh Sơn La và Lai Châu tương đương nhau và cao hơn so với tỉnh Điện Biên.

Có thể tìm đọc toàn văn báo cáo kết quả nghiên cứu (Mã số 13425/2017) tại Cục Thông tin khoa học và công nghệ quốc gia.
P.K.L (NASATI)

Trong những năm qua, sản xuất lạc và đậu tương ở nước ta đã có bước tiến bộ nhảy vọt nhờ vào các thành tựu nghiên cứu khoa học các giai đoạn trước và giai đoạn 2006 - 2010, chính sách phát triển nông nghiệp của các cấp chính quyền từ trung ương đến địa phương. Mặc dù năng suất lạc của nước ta (21,3 tạ/ha năm 2015) đã cao hơn năng suất trung bình thế giới (17,4tạ/ha) và cao hơn một số nước, song, nếu đem so sánh với một số nước như Israel (64,3 tạ/ha), Saudi Arabia (40 tạ/ha), Mỹ (38,3 tạ/ha), Malaixia (36,1 tạ/ha) thì năng suất lạc của nước ta vẫn còn thấp điều đó cho thấy tiềm năng tiếp tục nâng cao năng suất lạc là hoàn toàn khả thi, đặc biệt là đối với các tỉnh phía bắc nơi mà năng suất trung bình lạc và đậu tương thấp hơn các tỉnh phía Nam.

Nghien cuu chon giong lac
Mặc dù diện tích lạc và đâu tương của các tỉnh phía Bắc (từ Quảng trị trở ra) lớn hơn so với các tỉnh phía Nam, song, năng suất bình quân thấp hơn do điều kiện tự nhiên (nhiệt độ thấp, cường độ ánh sáng và chất lượng ánh sáng và phân bố lượng mưa không hoàn toàn thích hợp cho cây đậu tương và lạc phát triển). Hơn nữa đậu tương phía Bắc chủ yếu trồng trong vụ đông ở vùng đồng bằng sông Hồng và vụ xuân hè hoặc hè ở vùng trung du miền núi, nơi có thể mở rộng diện tích lớn hơn nữa, đất đai kém mầu mỡ (vùng trung du, miền núi chủ yếu trồng trên đất dốc); trình độ canh tác của nông dân ở vùng vùng trung du, miền núi thấp, quảng lý cây trồng kém (thiếu hệ thống tưới tiêu, ít phân bón, quản lý sâu bệnh yếu… trong khi các nghiên cứu về giống và biện pháp canh tác cho vùng này chưa thật sự chú trọng.

Để từng bước giải quyết được các hạn chế nêu trên, góp phần nâng cao năng suất, mở rộng diện tích lạc và đậu tương, giảm nhập khẩu đậu tương hàng năm cho sản xuất thức ăn chăn nuôi, tăng sản lượng và kim ngạch xuất khẩu lạc Bộ NN&PTNT đã phê duyệt đề tài: “Nghiên cứu chọn tạo giống lạc, đậu tương cho các tỉnh phía bắc” doThS. Nguyễn Văn Thắngđến từ Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm làm chủ nhiệm với mục tiêu chọn tạo ra các giống lạc, đậu tương mới có năng suất cao, chất lượng tốt hơn các giống hiện có, góp phần nâng cao năng suất và sản lượng lạc, đậu tương của cả nước.

Đề tài đã áp dụng các phương pháp nghiên cứu chuẩn đang được áp dụng rộng rãi trên thế giới và trong nước như nhập nội, lai hữu tính, chọn lọc, so sánh, khảo nghiệm và thử nghiệm sản xuất. Sau năm năm thực, hiện đề tài đã hoàn thành được mục tiêu đã phê duyệt, đã thực hiện được tất cả các nội dung và sản phẩm đã phê duyệt. Cụ thể là:
1. Thu thập, nhập nội bổ sung thêm 98 mẫu giống đậu đỗ mới vào tập đoàn giống
hiện có trong đó có 57 mẫu giống lạc và 41 giống đậu tương tăng so với kế hoạch 44 mẫu giống và đánh giá 3967 lượt mẫu giống trong tập đoàn vượt kế hoạch 247% và duy trì được tập đoàn 1120 mẫu giống trong đó tập đoàn lạc 576 mẫu giống và tập đoàn đậu tương 544 mẫu giống.
2. Lai và đột biến mới 262 tổ hợp/mẫu giống, trong đó lai hữu tính được 150 tổ hợp và đột biến được 12 mẫu giống góp phần làm đa dạng vật liệu khởi đầu phục vụ công tác chọn tạo giống và chọn ra được 8822 cá thể/dòng, trong đó, lạc 2790 dòng và đậu tương 5822 dòng.
3. Đánh giá, chọn lọc và gửi khảo nghiệm quốc gia được 24 lượt dòng triển vọng có năng suất và chất lượng cao hơn các giống hiện có để phục vụ cho công tác chọn giống giai đoạn tới. Kế thừa kết quả nghiên cứu giai đoạn 2006-2010, đề tài đã chọn tạo thành công và được Bộ NN&PTNT công nhận được 4 giống mới trong đó công nhận chính thức 2 giống lạc (L27 cho vùng nước trời và giống L17 cho vùng thâm canh), chọn ra 3 giống lạc triển vọng (L21, L22, L30) ở mức khảo nghiệm; công nhận chính thức 1 giống đậu tương (ĐT 51) có thể trồng 3 vụ/năm và thích hợp cho cả vùng đồng bằng sông hồng và trung du miền núi phía bắc; và công nhận tạm thời 1 giống (ĐT 30) thích hợp cho vụ đông, vụ xuân ở vùng đồng bằng sông hồng và 4 qui trình kỹ thuật cho các giống mới nói trên, bảo hộ được 2 giống lạc và 1 giống đậu tương.
4. Xây dựng thành công mô hình lạc thâm canh đạt trên 50 tạ/ha và trên 30 tạ/ha cho vùng nước trời; mô hình đậu tương thâm canh đạt năng suất 30-35 tạ/ha và 20-25 tạ/ha cho vùng đồng bằng sông hồng và vùng trung du miền núi phía Bắc. Các mô hình áp dụng giống mới và biện pháp kỹ thuật mới được cán bộ địa phương và nông dân đánh giá cao. Công trình nghiên cứu đã mang lại hiệu quả khoa học, kinh tế xã hội cao.
5. Đề tài góp phần đào tạo được 4 thạc sĩ, đăng 05 bài báo trên tạp chí khoa học chuyên ngành.

Có thể tìm đọc toàn văn báo cáo kết quả nghiên cứu (Mã số 14318/2017) tại Cục Thông tin khoa học và công nghệ quốc gia.
P.K.L (NASATI)

Việt Nam là nước nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới, có hệ thực vật rất đa dạng, phát triển quanh năm, trong đó có nhiều loài cây chứa các hợp chất có hoạt tính sinh học, có thể ứng dụng làm nguyên liệu cho ngành sản xuất hóa dược. Dược phẩm là thuốc có nguồn gốc tự nhiên chiếm một tỉ trọng đáng kể trong cơ cấu dược phẩm ở Việt Nam, các hợp chất tự nhiên đóng góp một vai trò chính yếu trong việc khám phá ra các loại thuốc chữa trị bệnh cho người. Có tới 80% các loại thuốc trước đây là bắt nguồn từ các hợp chất tự nhiên và khung cấu trúc của các hợp chất tự nhiên.Trên thế giới đã tạo ra nhiều loại thuốc mới và được đưa ra điều trị. Trong số đó, kể từ năm 1994 thì có khoảng 50% là có nguồn gốc tự nhiên. Ở Việt Nam, các hoạt chất được khai thác, tinh chế thảo dược có thể kể tới artemesinin từ cây Thanh hao hoa vàng (Artemisia annua), rutin từ hoa hòe (Sophora japonica), berberin từ Vàng đằng (Coscinium usitatum), rotundin từ củ Bình vôi (Stephania rotunda), curcumin từ củ Nghệ vàng (Curcuma longa L.) và mangiferin từ lá xoài (Mangifera indica).

Nghien cuu san xuat che pham 451
Virus Herpes là loại virus phổ biến gây bệnh cho người, có ít nhất 8 chủng loại của Herpes gây bệnh đã được biết. Các loại hoạt chất phổ biến sử dụng trong điều trị HSV như là acyclovir, ganciclovir, valaciclovir, penciclovir, famciclovir và vidarabine. Tuy nhiên, khả năng kháng thuốc của HSV và tác dụng phụ của thuốc là những vấn đề luôn luôn tồn tại, đòi hỏi nghiên cứu tiếp các loại thuốc mới và ít tác dụng hơn. Acyclovir có các tác dụng không mong muốn như buồn nôn, tiêu chảy, nhức đầu và ban da. Khi bôi ngoài có thể gây kích ứng, nóng rát nơi bôi thuốc. Foscarnet có thể độc với thận ở liều thấp, hạ canxi huyết, tăng creatinin huyết, gây buồn nôn, giảm bạch cầu, và viêm loét đường tiết liệu. Sử dụng các loại thuốc có nguồn gốc từ thảo dược có trên cơ sở cây thuốc dân gian được sử dụng lâu đời được cho là giải pháp hữu hiệu hiện nay.

Cây Thồm lồm (Polygonum chinense L.) được sử dụng khá phổ biến trong các bài thuốc dân gian để điều trị các bệnh thồm lồm ăn tai (chứng loét dái tai do nhiễm liên cầu khuẩn), chốc đầu, chốc mép, chốc da thường, eczema nhiễm khuẩn, chữa u nhọt, vết thương do rắn cắn, côn trùng và chó cắn [1,2]. Hoạt tính kháng virus HSV-1 của dịch chiết tổng cây Thồm lồm (Polygonum chinense L.) lần đầu tiên được công bố bởi nghiên cứu của nhóm chúng tôi năm 2009 [3] và cho đến nay vẫn chưa có công bố nào tương tự trên thế giới.

Xuất phát từ những lý do trên, nhóm tác giả doPGS. TS. Mai Ngọc Chúcthuộc Phòng TNTĐ Công nghệ lọc, hóa dầu đứng đầu đã đề xuất đề tài: “Nghiên cứu sản xuất chế phẩm kháng virus Herpes HSV từ cây Thồm lồm Polygonum chinense L.” nhằm nghiên cứu các hoạt chất chính, chất mang hoạt tính cao nhất và hiệu quả kháng HSV-1 của chế phẩm, tạo ra dạng chế phẩm kháng virus HSV.

Sau một thời gian thực hiện, dự án đã thu được một số kết quả nổi bật, bao gồm:
1. Đã lựa chọn được vùng nguyên liệu Thồm lồm ở khu vực Như Xuân, Thanh Hóa và đã tìm được các điều kiện tối ưu của quy trình chiết nguyên liệu lá Thồm lồm: dung môi chiết etyl axetat; nhiệt độ chiết 77 độ C; thời gian chiết 8h; tỉ lệ dung môi/nguyên liệu 3/1 (L/kg). 2. Đã phân lập được 10 hợp chất trong cây Thồm lồm và xác định được cấu trúc của chúng: quercetin, quercitrin, axit gallic, axit caffeic, emodin, ß-sitosterol, daucosterol, protocatechuic axit metyl este, metyl gallate, emodin và bán tổng hợp 1 chất axit triacetyl gallic.
3. Đã nghiên cứu quy trình chế tạo chế phẩm kem bôi Thomlom PSVH có hiệu quả kháng virus HSV-1. Sản xuất 10.000 tuýp kem bôi da Thomlom PSVH. Quy trình chế tạo chế phẩm với quy mô 1000 tuýp/mẻ trong đó hàm lượng các thành phần trong cao như sau: - cao Thồm lồm tinh chế 10% - quercetin 0,002% - axit gallic 0,002% - axit caffeic 0,0006% - methyl paraben 0,0012% - propyl paraben 0,0004% - tá dược vừa đủ.
4. Đã phân tích xác định được hàm lượng một số hợp chất có hoạt tính như PC1 (5,6 mg/g), PC3 (5,6 mg/g) và PC8 (0,78 mg/g) trong cao chiêt Thồm lồm tinh chế. Đã lập TCCS đối với cao chiết Thồm lồm bán tinh chế.
5. Đã tiến hành thử hoạt tính với virus HSV-1.
- Dịch chiết etyl axetat có hoạt tính kháng virus HSV-1 tới 100% bằng với thuốc đối chứng acyclovir ở cùng nồng độ 50µg/ml .
- Bốn hợp chất quercetin, axit gallic, axit caffeic và emodin phân lập từ cao Thồm lồm có hoạt tính kháng virus HSV từ 31,3 tới 62,7 % với nồng độ thử nghiệm tại 100 µg/ml.
- Kem bôi Thomlom PSVH có khả năng ức chế virus so với acyclovir cao hơn gấp 5 lần tại nồng độ 0,5% và cao hơn gấp 30 lần tại nồng độ 1% trong thử nghiệm in vitro. Đối với thí nghiệm in vivo trên chuột, hiệu quả kháng virus của kem bôi Thomlom PSVH ở liều lượng 1% là tương đương với hiệu quả của mẫu đối chứng dương AVC 0,5%.
6. Đã tiến hành thử nghiệm hoạt tính kháng viêm của kem bôi Thomlom PSVH trên chuột và nhận thấy kem bôi không ảnh hưởng tới khối lượng và các chỉ số sinh hóa, chỉ số máu của chuột và có tác dụng kháng viêm trên chuột.
7. Đã đánh giá độc tính cấp và độc tính bán trường diễn của chế phẩm kem bôi Thomlom PSVH và nhận thấy chế phẩm an toàn ở nồng độ 5000mg/kg.
8. Đã xây dựng tiêu chuẩn cơ sở của kem bôi Thomlom PSVH.
9. Đã kiểm tra độ ổn định của kem bôi bằng phương pháp lão hóa cấp tốc thấy rằng kem bôi Thomlom PSVH đạt độ ổn định về chất lượng sau 24 tháng.
10. Đã đăng 3 bài báo trên tạp chí trong nước (1- tạp chí Công nghiệp Hóa chất số 4 năm 2016 trang 32-38, 2- tạp chí Công nghiệp Hóa chất số 5 năm 2016 trang 32-36); 1 bài trong Tạp Chí Hóa học số 53(5e3) 2015-Kỉ niệm 60 năm thành lập Viện Hóa học Công nghiệp Việt Nam trang 25-28. Đào tạo 1 thạc sĩ tại Trường đại học Công nghiệp Hà Nội. Đã đăng ký 1 giải pháp hữu ích.

Có thể tìm đọc toàn văn báo cáo kết quả nghiên cứu (Mã số 14319/2017) tại Cục Thông tin khoa học và công nghệ quốc gia.

P.K.L (NASATI)

Nguồn http://www.vista.gov.vn

Tìm kiếm...

Thông báo mới

Thông báo tuyển dụng lao động hợp đồng theo Nghị định số 68/2000/NĐ-CP ngày 17/11/2000 của Chính Phủ


Quy định cơ chế tự chủ của tổ chức KH&CN công lập. Nghị định số 54/2016/NĐ-CP


Quyết định 23/2015/QĐ-UBND ngày 13/8/2015 của UBND tỉnh Hòa Bình về việc ban hành quy định vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Hòa Bình


Quyết định về việc công bố thủ tục hành chính đã chuẩn hóa thuôc phạm vi chức năng quản lý của Sở Khoa học và Công nghệ Hòa Bình


Quyết định số 19/QĐ-SKHCN ngày 31/01/2018 về việc ban hành quy chế làm việc của Sở Khoa học và Công nghệ


Thông báo tuyển dụng lao động hợp đồng theo Nghị định số 68/2000/NĐ-CP ngày 17/11/2000 của Chính Phủ


Quy định cơ chế tự chủ của tổ chức KH&CN công lập. Nghị định số 54/2016/NĐ-CP


Quyết định 23/2015/QĐ-UBND ngày 13/8/2015 của UBND tỉnh Hòa Bình về việc ban hành quy định vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Hòa Bình


Quyết định về việc công bố thủ tục hành chính đã chuẩn hóa thuôc phạm vi chức năng quản lý của Sở Khoa học và Công nghệ Hòa Bình


Quyết định số 19/QĐ-SKHCN ngày 31/01/2018 về việc ban hành quy chế làm việc của Sở Khoa học và Công nghệ


Thông báo tuyển dụng lao động hợp đồng theo Nghị định số 68/2000/NĐ-CP ngày 17/11/2000 của Chính Phủ


Quy định cơ chế tự chủ của tổ chức KH&CN công lập. Nghị định số 54/2016/NĐ-CP


Quyết định 23/2015/QĐ-UBND ngày 13/8/2015 của UBND tỉnh Hòa Bình về việc ban hành quy định vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Hòa Bình


Quyết định về việc công bố thủ tục hành chính đã chuẩn hóa thuôc phạm vi chức năng quản lý của Sở Khoa học và Công nghệ Hòa Bình


Quyết định số 19/QĐ-SKHCN ngày 31/01/2018 về việc ban hành quy chế làm việc của Sở Khoa học và Công nghệ


Thông báo tuyển dụng lao động hợp đồng theo Nghị định số 68/2000/NĐ-CP ngày 17/11/2000 của Chính Phủ


Quy định cơ chế tự chủ của tổ chức KH&CN công lập. Nghị định số 54/2016/NĐ-CP


Quyết định 23/2015/QĐ-UBND ngày 13/8/2015 của UBND tỉnh Hòa Bình về việc ban hành quy định vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Hòa Bình


Quyết định về việc công bố thủ tục hành chính đã chuẩn hóa thuôc phạm vi chức năng quản lý của Sở Khoa học và Công nghệ Hòa Bình


Quyết định số 19/QĐ-SKHCN ngày 31/01/2018 về việc ban hành quy chế làm việc của Sở Khoa học và Công nghệ


Thông báo tuyển dụng lao động hợp đồng theo Nghị định số 68/2000/NĐ-CP ngày 17/11/2000 của Chính Phủ


Quy định cơ chế tự chủ của tổ chức KH&CN công lập. Nghị định số 54/2016/NĐ-CP


Quyết định 23/2015/QĐ-UBND ngày 13/8/2015 của UBND tỉnh Hòa Bình về việc ban hành quy định vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Hòa Bình


Quyết định về việc công bố thủ tục hành chính đã chuẩn hóa thuôc phạm vi chức năng quản lý của Sở Khoa học và Công nghệ Hòa Bình


Quyết định số 19/QĐ-SKHCN ngày 31/01/2018 về việc ban hành quy chế làm việc của Sở Khoa học và Công nghệ


Thông báo tuyển dụng lao động hợp đồng theo Nghị định số 68/2000/NĐ-CP ngày 17/11/2000 của Chính Phủ


Quy định cơ chế tự chủ của tổ chức KH&CN công lập. Nghị định số 54/2016/NĐ-CP


Quyết định 23/2015/QĐ-UBND ngày 13/8/2015 của UBND tỉnh Hòa Bình về việc ban hành quy định vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Hòa Bình


Quyết định về việc công bố thủ tục hành chính đã chuẩn hóa thuôc phạm vi chức năng quản lý của Sở Khoa học và Công nghệ Hòa Bình


Quyết định số 19/QĐ-SKHCN ngày 31/01/2018 về việc ban hành quy chế làm việc của Sở Khoa học và Công nghệ


Thông báo tuyển dụng lao động hợp đồng theo Nghị định số 68/2000/NĐ-CP ngày 17/11/2000 của Chính Phủ


Quy định cơ chế tự chủ của tổ chức KH&CN công lập. Nghị định số 54/2016/NĐ-CP


Quyết định 23/2015/QĐ-UBND ngày 13/8/2015 của UBND tỉnh Hòa Bình về việc ban hành quy định vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Hòa Bình


Quyết định về việc công bố thủ tục hành chính đã chuẩn hóa thuôc phạm vi chức năng quản lý của Sở Khoa học và Công nghệ Hòa Bình


Quyết định số 19/QĐ-SKHCN ngày 31/01/2018 về việc ban hành quy chế làm việc của Sở Khoa học và Công nghệ


Thông báo tuyển dụng lao động hợp đồng theo Nghị định số 68/2000/NĐ-CP ngày 17/11/2000 của Chính Phủ


Quy định cơ chế tự chủ của tổ chức KH&CN công lập. Nghị định số 54/2016/NĐ-CP


Quyết định 23/2015/QĐ-UBND ngày 13/8/2015 của UBND tỉnh Hòa Bình về việc ban hành quy định vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Hòa Bình


Quyết định về việc công bố thủ tục hành chính đã chuẩn hóa thuôc phạm vi chức năng quản lý của Sở Khoa học và Công nghệ Hòa Bình


Quyết định số 19/QĐ-SKHCN ngày 31/01/2018 về việc ban hành quy chế làm việc của Sở Khoa học và Công nghệ



Dan hoi GD So tra loi
bkhcn
DCS-VN chinh-phu
tap chi KHCN Báo Khoa học & Phát triển
NASATI Varans
Dich vu hanh chinh cong

Thống kê truy cập

1177949
Hôm nay
Hôm qua
Tuần này
Tuần trước
Tháng này
Tháng trước
Tất cả các ngày
788
842
2909
1168727
10041
24296
1177949

Your IP: 54.159.51.118
2018-12-11 15:28