Banner 1222x465 2

DO LUONG

ung dung

thong ke

DOLUONG

QUYPHAT

Banner 06

THUVIENKHCN
cam cao phong
Untitled2
Web hosting
pctn77845

ung dung thong timunh 9875632

Theo Sở nông nghiệp và phát triển nông thôn TP.HCM, ngành nông nghiệp thành phố triển khai thực hiện Chương trình phát triển nông nghiệp giai đoạn 2019 - 2025 theo hướng cơ cấu lại và đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp theo Quyết định số 1589/QĐ-UBND ngày 27/4/2019 của UBND TP.HCM.


Theo đó, đẩy mạnh phát triển khoa học công nghệ, ứng dụng công nghệ thông tin trong nông nghiệp cùng góp phần xây dựng đô thị thông minh của thành phố, tận dụng tốt cơ hội của cuộc cách mạng 4.0, nâng cao hiệu quả sản xuất gắn với đào tạo nguồn nhân lực.

Nâng cao tỷ lệ ứng dụng nhà lưới, nhà kính, nhà màng trong sản xuất rau, hoa, cây kiểng giúp đảm bảo ổn định năng suất, chất lượng cây trồng. Các mô hình sản xuất rau thủy canh theo công nghệ màng mỏng dinh dưỡng NFT. Mô hình trồng rau, hoa, cây kiểng ứng dụng tưới tự động nhỏ giọt kết hợp châm phân bón tự động... Ứng dụng thuốc trừ sâu hữu cơ sinh học, các loại thiên địch, chế phẩm sinh học trong phòng trừ sinh vật hại cây trồng, góp phần xây dựng nông nghiệp hữu cơ, không độc hại và thân thiện với môi trường.

Nâng cao năng lực quản lý ngành giống, đáp ứng với yêu cầu hội nhập quốc tế và khu vực, đặc biệt nguồn nhân lực trong quản lý, sản xuất giống. Tổ chức chứng nhận chất lượng giá trị giống vật nuôi theo các phương pháp tiên tiến; kiểm tra, kiểm nghiệm chất lượng giống bằng các phương pháp kỹ thuật tiên tiến, hiện đại.

giong bong thuan 698653

Theo đánh giá của Hiệp hội Tư vấn Bông thế giới, trong 10 năm trở lại đây bình quân năng suất và giá bông xơ có tăng nhưng với tốc độ chậm so với xu hướng tăng ngày càng nhanh của chí phí sản xuất do tăng giá vật tư đầu vào, chi phí lao động và một số chi phí thiết bị bổ sung và phụ trợ khác. Hiện tại, diện tích trồng bông toàn cầu biến động trong khoảng 30 - 35 triệu ha với sản lượng bông xơ khoảng 20 - 25 triệu tấn/năm. Trong năm 2016, diện tích trồng bông toàn cầu vào khoảng 30,5 triệu ha với sản lượng 21,2 triệu tấn.


Đối với Việt Nam, phát triển bông hiện tại cũng nằm trong xu thế chung của thế giới. Năng suất bông bình quân cả nước thấp và tăng chậm. Hơn nữa, chi phí sản xuất cao, trung bình chi phí khoảng 1,1USD/1kg xơ, thuộc nhóm nước có chi phí sản xuất cao nhất và đang có xu hướng tăng theo giá cả vật tư, nhân công,… do đó các đơn vị sản xuất khó có thể dùng biện pháp tăng giá mua để kích thích người trồng, đồng thời, hiệu quả sản xuất bông thấp, rủi ro cao, cây bông mất ưu thế cạnh tranh so với cây trồng khác. Trước thực tế trên, tăng giá trị đầu ra của sản phẩm bông và giảm chi phí sản xuất đầu vào hợp lý là giải pháp quan trọng để tăng khả năng cạnh tranh của cây bông nhằm khôi phục và phát triển bông trong nước; trong đó, sử dụng các giống bông xơ có màu tự nhiên với giá xơ gấp 2 - 2,5 lần so với bông xơ trắng giúp tăng giá trị đầu ra của nguyên liệu và sản phẩm dệt may; từ đó, tăng hiệu quả sản xuất, kích thích sản xuất bông phát triển. Mặt khác, chọn tạo các giống bông lai xơ trắng có năng suất cao, phẩm chất tốt và chống chịu được một số loại sâu bệnh hại chính nhằm góp phần giảm thiểu ô nhiễm môi trường do sử dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật để phòng trừ sâu bệnh hại, đồng thời nâng cao thu nhập cho người trồng bông nhờ giảm chi phí đầu vào thuốc bảo vệ thực vật và nhân công phun thuốc. Hiện tại, mặc dù chưa được khai thác đầy đủ, nhưng với thuận lợi về nguồn gen hiện có, khá phong phú về chủng loại và số lượng (hơn 2.100 mẫu giống); trong đó, có 75 mẫu giống bông xơ màu (gồm 66 mẫu giống bông xơ màu nâu và 9 mẫu giống bông xơ màu xanh lơ), 300 mẫu kháng rầy xanh chích hút (nhiều lông/thân lá), hơn 250 mẫu chất lượng xơ tốt, 60 mẫu kháng cao đối với sâu đục quả và 20 mẫu giống kháng sâu đồng thời chống chịu thuốc trừ cỏ có thể dùng làm nguồn vật liệu khởi đầu tốt. Trong bối cảnh như vậy, nhằm phát triển các giống bông thuần xơ màu và bông lai xơ trắng năng suất cao, phẩm chất tốt và chống chịu sâu hại cho hiệu quả kinh tế cao hơn các giống hiện đang trồng nhằm dần thay thế các giống cũ đang trồng phổ biến là một giải pháp kỹ thuật thích hợp, tăng hiệu quả kinh tế để tăng khả năng cạnh tranh của cây bông, khôi phục và phát triển sản xuất bông nhằm đáp ứng nhu cầu nguyên liệu cao và ngày càng tăng của ngành Dệt - May, tăng tỷ lệ nội địa, giảm nhập siêu, đa dạng hóa sản xuất, nhóm nghiên cứu doThS. Nguyễn Văn Sơn, Viện Nghiên cứu Bông và Phát triển Nông nghiệp Nha Hố đứng đầu đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “Chọn tạo giống bông thuần xơ màu và bông lai xơ trắng có năng suất cao, phẩm chất tốt và chống chịu sâu hại”.

Qua một thời gian triển khai (từ tháng 01/2014 đến tháng 12/2017), nhóm nghiên cứu đã thu được các kết quả như sau:
1. Trong công tác nhập nội và thử nghiệm giống bông thuần xơ màu: đã nhập nội và thử nghiệm 12 mẫu giống bông xơ màu, 2 mẫu giống bông thuần xơ màu có năng suất cao hơn giống đối chứng C118, tuy nhiên, khả năng kháng rầy xanh kém và chất lượng xơ không đạt yêu cầu nên không thể sử dụng bình tuyển trực tiếp mà thông qua lai tạo và chọn lọc sau lai. Tạo các quần thể lai giữa bố mẹ xơ màu và giữa bố mẹ xơ màu với xơ trắng cung cấp cho chọn lọc dòng thuần xơ màu: đã đánh giá và chọn lọc 50 bố mẹ xơ màu và xơ trắng, 7 bố mẹ xơ màu nâu và 5 bố mẹ xơ trắng có tiêu chí phù hợp cho chọn lọc bông thuần xơ màu; 35 quần thể lai F1 giữa bông thuần xơ màu và bông lai xơ trắng đã được lai tạo và 3 quần thể F2 phù hợp cho chọn lọc các dòng bông thuần xơ màu chín sớm từ các quần thể phân ly F2 - F8 đã được chọn lọc. Đánh giá 50 mẫu giống bông thuần hiện có trong tập đoàn quỹ gen xơ màu, 4 mẫu có năng suất thực thu > 20 tạ/ha, tuy nhiên, khả năng kháng rầy xanh kém và chất lượng xơ không đạt yêu cầu nên không thể sử dụng bình tuyển trực tiếp mà thông qua lai tạo và chọn lọc sau lai. Trong 6 quần thể từ thế hệ F2 - F7, 49 dòng có triển vọng được chọn lọc cung cho đánh giá, 24 dòng có triển vọng cung cấp cho so sánh và 16 dòng cho khảo nghiệm cơ bản.
2. Trong công tác nhập nội và thử nghiệm giống bông lai xơ trắng: đã nhập nội và thử nghiệm 20 giống bông lai xơ trắng, 4 giống bông lai xơ trắng có năng suất cao thấp hơn giống đối chứng VN01-2 và kháng rầy kém. Tuy nhiên, tỷ lệ xơ cao và chất lượng xơ tốt có thể sử dụng làm vật liệu nghiên cứu chọn tạo giống bông chất lượng xơ cao. Đánh giá đa dạng di truyền bằng phương pháp truyền thống cho 50 mẫu giống bông thuần xơ trắng, đã phân thành 5 nhóm với các đặc tính quý khác nhau. Đánh giá đa dạng di truyền bằng phương pháp ứng dụng công nghệ sinh học cho 50 mẫu giống bông thuần xơ trắng đã phân được 2 nhóm chính và 8 nhóm phụ khác nhau. Trên cơ sở phân nhóm di truyền bằng phương pháp truyền thống và ứng dụng công nghệ sinh học đã tạo 100 tổ hợp lai theo các sơ đồ lai lai kiểm định 4x10, 4x6 và lai đơn cung cấp cho đánh giá. Đánh giá bố mẹ và 79 tổ hợp lai, 12 tổ hợp lai có triển vọng đã được chọn lọc cung cấp cho so sánh. So sánh 12 tổ hợp lai, 6 tổ hợp lai có triển vọng cung cấp cho khảo nghiệm cơ bản. Các tổ hợp đều có năng suất hơn hẳn đối chứng hiện trồng, chất lượng xơ tốt, kháng sâu xanh và kháng rầy xanh cao.
3. Trong các dòng thuần xơ màu và tổ hợp lai xơ trắng khảo nghiệm VCU qua các bước, dòng bông thuần xơ màu S10-80-13-3-6-4 và tổ hợp lai xơ trắng TL0034/B04-4-2, có năng suất vượt đối chứng chín sớm trên 15% ở các vùng, phẩm chất xơ tốt, kháng sâu xanh và kháng rầy xanh từ khá đến tốt. Đối với dòng bông thuần xơ màu có triển vọng S10-80-13-3-6-4 tại Ninh Thuận có thể trồng với mật độ 6,5 vạn cây/ha kết hợp bón phân với liều lượng 150kg N - 75kg P2O5 - 75kg K2O và thời vụ gieo trồng trong vụ mưa thích hợp nhất từ 10 - 15/7 hàng năm. Đối với tổ hợp lai xơ trắng TL00-34/BO4-4-2, trong điều kiện Ninh Thuận có thể trồng tăng mật độ lên 7,5 vạn cây/ha và bón phân với liều lượng 120 kg N + 60 kg P2O5 + 90 kg K2O và thời vụ gieo trồng trong vụ mưa thích hợp nhất từ 10 - 15/7 hàng năm.

Nhóm nghiên cứu mong muốn được tiếp tục khảo nghiệm sản xuất cho dòng bông thuần xơ màu S10-80-13-3-6-4 và tổ hợp lai xơ trắng TL00-34/BO4-4-2 ở các vùng sinh thái khác nhau để có cơ sở công nhận sản xuất thử cho dòng bông thuần xơ mà và tổ hợp lai xơ trắng trên. Bổ sung các biện pháp kỹ thuật phù hợp cho dòng bông thuần xơ màu S10-80-13-3-6-4 và tổ hợp lai xơ trắng TL00-34/BO4-4-2 phù hợp ở các vùng sinh thái khác.

Có thể tìm đọc toàn văn Báo cáo kết quả nghiên cứu của Đề tài (Mã số 14779/2018) tại Cục Thông tin KH&CN Quốc gia.
P.T.T (NASATI)

cay ba kich vxcv1351xcv

Hướng tới nguồn “dược liệu xanh” là xu thế của thế giới, Việt Nam là quốc gia có nguồn tài nguyên cây thuốc phong phú và đa dạng với khoảng hơn 4000 loài. Với mục tiêu phát triển dược liệu thành ngành sản xuất hàng hóa, ngày 30/10/2013, Thủ Tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 1976/QĐ-TTG quy hoạch tổng thể phát triển dược liệu đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030, trong đó, Ba kích tím là một trong 28 loài dược liệu bản địa có giá trị được chú trọng tập trung phát triển trồng ở quy mô lớn tại các tỉnh vùng núi, trung du miền núi Bắc Bộ với diện tích 4600 ha.


Ba kích tím là một loài dược liệu quý. Theo y học cổ truyền, rễ củ Ba kích tím có vị cay ngọt, tính ôn, có tác dụng ôn thận trợ dương, mạnh gân cốt, khử phong thấp, gân cốt yếu mềm, lưng gối mỏi đau, hỗ trợ thần kinh. Do nhu cầu sử dụng dược liệu tăng mạnh trong thời gian gần đây nên cây Ba kích tím bị khai thác ồ ạt, dẫn đến nguồn nguyên liệu đang ngày một trở nên kiệt quệ. Mặt khác, vùng phân bố của Ba kích tím bị tàn phá nghiêm trọng khiến cho tính đa dạng nguồn gen của loài này đang bị suy giảm trầm trọng. Một số địa phương như: Bắc Giang, Phú Thọ, Thái Nguyên, Thanh Hóa, Quảng Nam... cũng đã xây dựng mô hình trồng Ba kích tím nhưng chủ yếu từ cây gieo hạt và cây giâm hom nên việc mở rộng mô hình trồng gặp nhiều khó khăn do không chủ động được nguồn giống. Năm 2013, Quảng Ninh mới bắt đầu triển khai mô hình trồng chuyên canh cây Ba kích tím bằng giống nuôi cấy mô thông qua dự án liên kết Sở Khoa học Công nghệ tỉnh và Viện Công nghệ Sinh học Viện Hàn Lâm Khoa học.

Sản xuất cây giống dược liệu nói riêng và cây lâm nghiệp nói chung bằng công nghệ nuôi cấy invitro đã được nhiều quốc gia trên thế giới như: Trung Quốc; Ấn Độ; Nhật Bản áp dụng nhằm tạo ra nguồn cây giống có chất lượng đồng đều, sạch bệnh, số lượng lớn, đáp ứng nhu cầu phát triển vùng nguyên liệu trên quy mô lớn. Để đáp ứng nhu cầu về giống cho kế hoạch phát triển vùng dược liệu ngành ở quy mô lớn thì giải pháp sản xuất giống bằng nuôi cấy in vitro là rất cần thiết.

Đứng trước nhu cầu thực tế, nhóm nghiên cứu doThS. Phan Xuân Bình Minh, Trung tâm Sinh học Thực nghiệm dẫn đầu đã thực hiện dự án “Xây dựng mô hình sản xuất giống bằng phương pháp nuôi cấy in vitro và trồng cây Ba kích tím (Morinda officinalis How) ở Trà Lĩnh, Cao Bằng” với các mục tiêu chủ yếu, bao gồm:
- Hoàn thiện 04 quy trình: quy trình xây dựng vườn giống gốc; quy trình nhân giống Ba kích tím bằng phương pháp nuôi cấy in vitro; quy trình đưa cây giống in vitro ra vườn ươm; quy trình trồng Ba kích tím từ cây giống nuôi cấy in vitro dưới tán rừng.
- Sản xuất 20-30 nghìn cây giống Ba kích tím đủ tiêu chuẩn xuất vườn bằng phương pháp nuôi cấy in vito một năm đáp ứng nhu cầu phát triển mô hình trồng Ba kích tím ở Việt Nam.
- Xây dựng mô hình trồng Ba kích tím invitro dưới tán rừng làm mô hình thí điểm để tuyên truyền cho bà con vùng núi và trung du phía bắc.

Sau một thời gian thực hiện, đề tài của nhóm nghiên cứu đã đạt được một số kết quả đáng chú ý như sau:
1. Từ các kết quả kế thừa của đề tài cấp bộ “Nghiên cứu kỹ thuật nhân giống hai loài cây dược liệu có tiềm năng phát triển Ba kích tím (Morinda officinalis How) và Hoằng Đằng (Fibraurea tinctoria Lour.)” và những kết quả nghiên cứu mới của dự án đã hoàn thiện 04 quy trình: quy trình xây dựng vườn giống gốc; quy trình nhân giống Ba kích tím bằng phương pháp nuôi cấy in vitro; quy trình đưa cây giống in vitro ra vườn ươm và quy trình trồng Ba kích tím từ cây giống nuôi cấy in vitro dưới tán rừng.
2. Quy trình xây dựng vườn giống gốc: Đã xây dựng các tiêu chuẩn cho cây giống gốc là: Cây Ba kích tím (Morinda officinnalis How) thu tại Quảng Ninh đang trong giai đoạn phát triển tốt, ít sâu bệnh, có hoa hoặc quả, đường kính gốc 1,3- 1,9cm, có 8-15 cụm hoa hoặc quả, năng suất củ tươi đạt 1,6 -2,1 kg củ/cây, chất lượng củ đạt tiêu chuẩn theo DĐVN IV, hàm lượng các chất trong rễ củ đạt 4,72 % nytose, 6,64 ppm tectoquinon, 3,67 ppm rubiadin; Đã xây dựng được vườn giống gốc 300 cây trên diện tích 200m2 tại Trà Lĩnh Cao Bằng.
3. Quy trình nhân giống Ba kích tím bằng phương pháp nuôi cấy in vitro: Cải thiện môi trường nuôi cấy trong giai đoạn nhân nhanh bằng cách sử dụng môi trường lỏng lắc tốc độ 80 vòng/phút để đã gia tăng hệ số nhân chồi lên 1,4 lần so với môi trường bán rắn sử dụng trước đó và đã ổn định quy trình sản xuất với quy mô 20.000 cây/năm đạt tiêu chuẩn xuất bình.
4. Quy trình đưa cây giống in vitro ra vườn ươm: Để hoàn thiện quy trình đưa cây giống in vitro ra vườn ươm thì cây sau khi huấn luyện được trồng vào bầu nhỏ kích thước 9x15cm với công thức giá thể là 100% đất feralit đỏ vàng, sau 6 tháng chuyển sang bầu lớn kích thước 15 x 25 cm với công thức giá thể là 90% đất feralit đỏ vàng + 10% phân hữu cơ. Sau 12 tháng nuôi trồng đạt tỉ lệ sống 82,13%, cây phát triển tốt, cao 45-26 50cm, có 8-12 cặp lá. Quy trình được thực hiện trên quy mô vườn ươm 1000m2 với khoảng 15000 - 20.000 cây/năm (Đạt tiêu chuẩn vườn cấp II).
5. Quy trình trồng Ba kích tím từ cây giống nuôi cấy in vitro dưới tán rừng: Cây Ba kích tím (Morinda officinalis How) nuôi cấy in vitro trồng thử nghiệm tại Trà Lĩnh (Cao Bằng) sinh trưởng tốt, tỷ lệ cây sống cao (tương ứng đạt 77,5% và 80,5%). Đánh giá sinh trưởng sau 4 năm trồng, cây phát triển ổn định tạo thành bụi lớn, đường kính gốc khoảng 2-2,9 cm, 100% số cây sống đều ra hoa, số lượng quả trung bình đạt 38-42 quả/cây, năng suất dược liệu Ba kích tím tươi đạt 2,9 kg/cây, năng suất dược liệu Ba kích tím khô đạt 1,17kg/cây sau 4 năm nuôi trồng. Chất lượng dược liệu đạt tiêu chuẩn DĐVN IV và có các hoạt chất đều có hàm lượng nytose 4,69%, và tectoquinon đạt 10,33ppm đạt yêu cầu, nhưng lại không phát hiện rubiadin trong mẫu này. Cần tiếp tục nghiên cứu sau 5 năm nuôi trồng. Hiện tại, mô hình trồng Ba kích tím dưới tán rừng hồi đã được mở rộng với quy mô 2ha.

Có thể tìm đọc toàn văn báo cáo kết quả nghiên cứu (Mã số 15171/2018) tại Cục Thông tin KH&CN Quốc gia.
P.K.L (NASATI)

xuat khau hoa quaff54356

Liên minh châu Âu (EU) là một trong những trung tâm thương mại lớn nhất thế giới với hơn 500 triệu dân, sức mua lớn và nhu cầu ổn định. Dù cho kinh tế phục hồi chậm sau các đợt khủng hoảng nhưng nhu cầu với các mặt hàng thiết yếu phục vụ cho tiêu dùng ở các quốc gia trong Liên minh châu Âu không ngừng gia tăng. Những năm qua, EU luôn là thị trường xuất khẩu nông sản quan trọng của Việt Nam và là một trong những nước có tốc độ tăng trưởng xuất khẩu nông sản sang EU cao nhất trong giai đoạn 2012 - 2016.


Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA) được dự báo là sẽ mở ra những cơ hội mới cho Việt Nam nói chung và ngành nông nghiệp Việt Nam nói riêng khi có tới 99% hàng hóa vào thị trường này được hưởng mức thuế suất bằng 0% khi quá trình dỡ bỏ thuế quan được bắt đầu từ năm 2018. Bên cạnh những cam kết về thuế quan, EVFTA cũng là một hiệp định toàn diện, có mức độ cam kết cao, hứa hẹn giúp doanh nghiệp hai bên khai thác nhiều tiềm năng, lợi thế nhằm tăng mạnh về thương mại, đầu tư giữa Việt Nam và các nước thành viên EU trong thời gian tới. Vì vậy, Việt Nam có nhiều cơ hội thu hút đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực chế biến nông sản để xuất khẩu sang thị trường EU.

Tuy nhiên, bên cạnh những cơ hội mà EVFTA mang lại, xuất khẩu nông sản của Việt Nam sang EU cũng phải đối mặt với nhiều thách thức. Các mặt hàng nông sản khi nhập khẩu vào thị trường châu Âu phải đáp ứng các tiêu chuẩn khắt khe về truy xuất nguồn gốc và an toàn vệ sinh thực phẩm. Ngoài yêu cầu cao về chất lượng hàng hóa, EU còn áp dụng nhiều quy định về nhập khẩu hàng hóa như: cấm nhập khẩu với các loại hàng hóa độc hại, giấy phép nhập khẩu áp dụng với một số hàng hóa như ngũ cốc, hạn chế nhập khẩu bằng hạn ngạch, luật chống bán phá giá, giấy chứng nhận kiểm dịch, nhất là đối với hoa quả tươi… cũng như các quy định về trách nhiệm của doanh nghiệp đối với xã hội và môi trường, các chứng chỉ về thương hiệu và thương hiệu quốc gia.

Trong khi đó, xuất khẩu hàng nông sản của Việt Nam chủ yếu vẫn là hàng hóa nguyên liệu hay sơ chế, chưa có giá trị gia tăng cao, nguồn cung cho hàng hóa xuất khẩu chưa đảm bảo khối lượng và chất lượng do sự manh mún trong sản xuất, diện tích trồng cây nguyên liệu nhỏ lẻ, sản lượng thấp, thiếu phương thức canh tác tiên tiến và sự hợp tác chặt chẽ giữa các bên liên quan, khả năng ñáp ứng các tiêu chuẩn của thị trường nhập khẩu, nhất là những thị trường có quy ñịnh nghiêm ngặt như EU còn rất hạn chế…

Từ những phân tích trên, đề tài: “Nghiên cứu đề xuất giải pháp thúc đẩy xuất khẩu nông sản của Việt Nam sang thị trường Liên minh châu Âu trong điều kiện thực hiện Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - Liên minh châu Âu (EVFTA)” doThS. Hoàng Thị Vân Anh, Viện Nghiên cứu Chiến lược, Chính sách Công Thương làm chủ nhiệm là cần thiết và có ý nghĩa đối với thực tiễn phát triển xuất khẩu nông sản của Việt Nam sang EU, góp phần thực hiện thành công các mục tiêu Chiến lược xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam.

Liên minh châu Âu (EU) là một trong những trung tâm thương mại lớn nhất thế giới với hơn 500 triệu dân, sức mua lớn và nhu cầu ổn định. Dù cho kinh tế phục hồi chậm sau các đợt khủng hoảng nhưng nhu cầu với các mặt hàng thiết yếu phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng ở các quốc gia trong Liên minh châu Âu không ngừng gia tăng. Thực tiễn xuất khẩu hàng nông sản của Việt Nam sang thị trường EU cho thấy, EU là thị trường xuất khẩu nông sản, thủy sản quan trọng của Việt Nam và là một trong những nước có tốc độ tăng trưởng xuất khẩu nông sản sang EU cao nhất trong giai ñoạn 2012 - 2016. Tuy nhiên, xuất khẩu hàng nông sản của Việt Nam sang thị trường EU thời gian qua vẫn còn một số hạn chế, bất cập đòi hỏi phải có những giải pháp thiết thực, hiệu quả nhằm thúc đẩy xuất khẩu trong bối cảnh mới, đặc biệt khi EVFTA đã được ký kết và dự kiến sẽ có hiệu lực thực thi năm 2018.

Đề tài đã đạt được những kết quả chủ yếu sau:
- Đưa ra bức tranh tổng quan nghiên cứu thị trường hàng nông sản EU. Có thể thấy, là khu vực đứng đầu thế giới về xuất khẩu cũng như nhập khẩu nông sản, thực phẩm, EU chiếm vị trí quan trọng trên thị trường nông sản thế giới. Theo số liệu của Cộng đồng châu Âu, sản xuất nông nghiệp của EU đạt tổng sản lượng khoảng 411 tỷ Euro, tương đương 3,7% giá trị tổng sản lượng của EU năm 2015. Tuy nhiên, sản xuất nông nghiệp có phần suy giảm trong những năm qua do những khó khăn trong hoạt động xuất khẩu và thời tiết bất lợi đối với nhiều loại cây trồng. Vì vậy, Liên minh châu Âu có nhu cầu nhập khẩu và tiêu thụ cao đối với các loại nông sản, đặc biệt là rau tươi và trái cây nhiệt đới.
- Việc đàm phán và ký kết Hiệp định Thương mại tự do giữa Liên minh châu Âu và Việt Nam đã hoàn tất và quá trình phê chuẩn sẽ tiếp tục được tiến hành để FTA này dự kiến có hiệu lực từ đầu năm 2018. Trong đó, hàng nông thuỷ sản được đánh giá là nhóm hàng được hưởng nhiều lợi ích khi thực hiện EVFTA. EU cam kết xóa bỏ thuế quan ngay khi EVFTA có hiệu lực đối với hàng hóa của Việt Nam thuộc 85,6% số dòng thuế trong biểu thuế, tương đương 70,3% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam vào EU. Trong vòng 7 năm kể từ khi EVFTA có hiệu lực, EU cam kết xóa bỏ 99,2% số dòng thuế trong biểu thuế, tương đương 99,7% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam vào EU. Đối với 0,3% kim ngạch xuất khẩu còn lại (bao gồm một số sản phẩm gạo, ngô ngọt, tỏi, nấm, đường, và các sản phẩm chứa hàm lượng đường cao, tinh bột sắn, cá ngừ đóng hộp), EU cam kết mở cửa cho Việt Nam theo hạn ngạch thuế quan.
- EU là thị trường xuất khẩu nông sản, thủy sản quan trọng của Việt Nam và là một trong những nước có tốc độ tăng trưởng xuất khẩu nông sản sang EU cao nhất trong giai đoạn 2012 - 2016. Tuy nhiên, để thúc đẩy xuất khẩu hàng nông sản của Việt Nam sang thị trường châu Âu thời gian tới khi mà thực hiện EVFTA thì bên cạnh những tác động từ việc giảm thuế, hàng nông sản Việt Nam sẽ phải đáp ứng được các yêu cầu về chất lượng, các tiêu chuẩn kỹ thuật, đặc biệt là vấn đề an toàn thực phẩm đối với hàng nông sản nhập khẩu vào thị trường EU.
- Thị trường hàng nông sản EU thời gian tới chịu ảnh hưởng từ các yếu tố chủ yếu là triển vọng tăng trưởng kinh tế, giá năng lượng, xu hướng tăng trưởng dân số và sự thay đổi thị hiếu tiêu dùng cũng như một số chỉ tiêu kinh tế vĩ mô khác. Khi FTA VN-EU có hiệu lực thực thi, hàng nông sản Việt Nam có nhiều cơ hội để thâm nhập thị trường này. Và để khai thác hiệu quả từ FTA mang lại cũng như nâng cao hiệu quả của hoạt động xuất khẩu hàng nông sản nói chung và sang thị trường EU nói riêng, Việt Nam cần thực hiện mạnh mẽ các giải pháp về cải thiện nguồn cung nông sản, nâng cao sức cạnh tranh của hàng hóa, cải thiện cơ cấu xuất khẩu hàng nông sản, tăng cường khả năng đáp ứng các quy ñịnh của thị trường nhập khẩu EU, đặc biệt là các giải pháp nhằm tận dụng cơ hội và vượt qua thách thức từ EVFTA.

Có thể tìm đọc toàn văn báo cáo kết quả nghiên cứu (Mã số 15181/2017) tại Cục Thông tin KH&CN Quốc gia.

Gen cay ca caođá565656

Bệnh thối quả (ca cao), còn gọi là quả đen, do nấm Phytophthora gây ra, có sự lây lan nhanh chóng trên vỏ hạt cacao trong điều kiện thời tiết mưa và ẩm quá mức, ánh nắng mặt trời không đủ và nhiệt độ thấp. Đây là một bệnh chính gây hạn chế cho ngành sản xuất ca cao. Nguồn: Andrew Fister, Penn State

 

Mới đây, nhóm các nhà di truyền thực vật quốc tế đã xác định được gen có khả năng kháng bệnh của cây ca cao, nguyên liệu chính để sản xuất sô cô la. Phương pháp này có thể giúp cho các nhà nhân giống cây trồng có thể tạo ra được những giống cây trồng mới, có khả năng chịu bệnh.


Mark Guiltinan, giáo sư ngành sinh học phân tử thực vật, Trường Đại học Khoa học Nông nghiệp State Pennsylvania (PSU), đứng đầu nhóm nghiên cứu cho biết, cách mới dùng để xác định các gen kháng bệnh nhanh chóng này cũng có thể áp dụng cho bất kỳ đặc điểm nào có liên kết di truyền trong bất kỳ loài cây nào khá. Ông cũng cho rằng chiến lược nghiên cứu này thể hiện một bước tiến lớn trong nỗ lực phát triển khả năng kháng bệnh của của các loài thực vật lâu năm chẳng hạn như các loài cây, có thể góp phần tăng cường an ninh kinh tế và lương thực toàn cầu.

Trọng tâm của nghiên cứu này là cây cacao, tên khoa học là Theobroma cacao, thường được trồng ở vùng nhiệt đới và là nguồn nguyên liệu để sô cô la. Mặc dù, hạt giống ca cao là một mặt hàng xuất khẩu chính của nhiều nước sản xuất vùng Trung Mỹ, Nam Mỹ, Châu Phi và Châu Á, nhưng bệnh nấm đã gây sụt giảm khoảng 30 - 40% sản lượng ca cao hàng năm trên toàn thế giới.

Trong một thời gian dài, các nhà khoa học đã cố gắng tìm ra cách để giảm thiểu những tổn thất này và tăng cường khả năng kháng bệnh cho cây ca cao – một cách tiếp cận hiệu quả và thân thiện với môi trường nhất cho quản lý các loại bệnh đối với cây trồng, Guiltinan nhấn mạnh.

Guiltinan đã tập hợp một nhóm liên ngành cùng tham gia vào nghiên cứu này. Bằng cách thu thập các mẫu lá từ cây ca cao tại Bộ sưu tập ca cao quốc tế (CATIE), ở Turrialba, Costa Rica, nhóm nghiên cứu bắt đầu đo mức nhạy cảm của 60 kiểu gen của ca cao đối với nấm Phytophthora palmivora - tác nhân gây bệnh nguy hại và phổ biến đối với cây ca cao.

Nhóm nghiên cứu tập trung vào bốn nhóm cây ca cao di truyền gồm Guiana, Iquitos, Marañon và Nanay, đều có nguồn gốc từ vùng Amazon (Nam Mỹ), Ngoài ra họ cũng thu thập thêm lá của các giống cây đại diện cho 4 kiểu gen là: Scavina 6, Imperial College Selection 1; CATIE R4 và R6.

Trong thời gian lấy mẫu kéo dài 9 tháng, các nhà nghiên cứu đã tiêm vào 1.250 lá cacao mầm bệnh Phytophthora palmivora và sau đó họ phân tích và đo mức độ tổn thương trên lá để đánh giá khả năng kháng bệnh. Họ đã xác định được 16 kiểu gen cho thấy khả năng chịu bệnh mạnh nhất và đánh giá được 16 kiểu gen dễ mắc bệnh khác. Sau đó, họ giải mã trình tự bộ gen của hầu hết các giống cây này để xem chúng sự khác nhau của từng mẫu.

“Kết quả giải trình tự bộ gen sẽ cho phép các nhà lai tạo cải thiện di truyền của ca cao chính xác và nhanh chóng hơn, và cuối cùng là phát triển được các hệ thống canh tác ca cao bền vững hơn và cải thiện phúc lợi của nông dân trồng cacao trên toàn thế giới”, Guiltinan cho biết.

Cách tiếp cận để khám phá ra các cơ sở di truyền có khả năng kháng bệnh mới này thành công là nhờ vào sự tiến bộ trong giải trình tự ADN. Công nghệ này đã nhanh chóng đẩy nhanh quá trình phân tích và giảm chi phí, Guiltinan nói.

Phần lớn nghiên cứu, công bố trên tạp chí Tree Genetics & Genomes mới đây, được tiến hành tại Cơ sở gen ở Viện nghiên cứu khoa học đời sống thuộc PSU bởi các nhà giải mã bộ gen tại Trung tâm y tế Hershey, PSU.

“Bước phát triển nhảy vọt của công nghệ đã mở ra một kỷ nguyên mới về nghiên cứu kháng bệnh cho cây, điều mà trước đây phải mất hàng thập kỷ mới có thể thu được các kết quả của việc nhân giống và thao tác di truyền. Bây giờ, thay vì chỉ có thể nghiên cứu một gen tại một thời điểm, có thể nghiên cứu một bộ gen cùng một thời điểm. Hiện nhóm nghiên cứu chúng tôi đang nghiên cứu hàng ngàn gen và sự đa dạng di truyền của các gen này trong các kiểu gen khác nhau của ca cao, ở một cấp độ hoàn toàn mới”. Guiltinan nói.

Một hạn chế lớn đối với việc tăng sản lượng lương thực là bị mất mùa do cây trồng bị mắc bệnh. Vi khuẩn có thể phá hủy khoảng 15% tổng sản lượng cây trồng của thế giới mỗi năm. Do đó, những tiến bộ trong khoa học trong kiểm soát bệnh ở thực vật là cần thiết để giảm những tổn thất này và việc phát hiện ra các gen kháng bệnh sẽ mở ra tiềm năng lớn của sự đa dạng di truyền trong nhân giống cây trồng trong tương lai.

Tìm kiếm...

Thông báo mới

Quyết định số 19/QĐ-SKHCN ngày 31/01/2018 về việc ban hành quy chế làm việc của Sở Khoa học và Công nghệ


Thông báo tuyển dụng lao động hợp đồng theo Nghị định số 68/2000/NĐ-CP ngày 17/11/2000 của Chính Phủ


Quyết định 23/2015/QĐ-UBND ngày 13/8/2015 của UBND tỉnh Hòa Bình về việc ban hành quy định vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Hòa Bình


Quy định cơ chế tự chủ của tổ chức KH&CN công lập. Nghị định số 54/2016/NĐ-CP


Quyết định về việc công bố thủ tục hành chính đã chuẩn hóa thuôc phạm vi chức năng quản lý của Sở Khoa học và Công nghệ Hòa Bình


Quyết định số 19/QĐ-SKHCN ngày 31/01/2018 về việc ban hành quy chế làm việc của Sở Khoa học và Công nghệ


Thông báo tuyển dụng lao động hợp đồng theo Nghị định số 68/2000/NĐ-CP ngày 17/11/2000 của Chính Phủ


Quyết định 23/2015/QĐ-UBND ngày 13/8/2015 của UBND tỉnh Hòa Bình về việc ban hành quy định vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Hòa Bình


Quy định cơ chế tự chủ của tổ chức KH&CN công lập. Nghị định số 54/2016/NĐ-CP


Quyết định về việc công bố thủ tục hành chính đã chuẩn hóa thuôc phạm vi chức năng quản lý của Sở Khoa học và Công nghệ Hòa Bình


Quyết định số 19/QĐ-SKHCN ngày 31/01/2018 về việc ban hành quy chế làm việc của Sở Khoa học và Công nghệ


Thông báo tuyển dụng lao động hợp đồng theo Nghị định số 68/2000/NĐ-CP ngày 17/11/2000 của Chính Phủ


Quyết định 23/2015/QĐ-UBND ngày 13/8/2015 của UBND tỉnh Hòa Bình về việc ban hành quy định vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Hòa Bình


Quy định cơ chế tự chủ của tổ chức KH&CN công lập. Nghị định số 54/2016/NĐ-CP


Quyết định về việc công bố thủ tục hành chính đã chuẩn hóa thuôc phạm vi chức năng quản lý của Sở Khoa học và Công nghệ Hòa Bình


Quyết định số 19/QĐ-SKHCN ngày 31/01/2018 về việc ban hành quy chế làm việc của Sở Khoa học và Công nghệ


Thông báo tuyển dụng lao động hợp đồng theo Nghị định số 68/2000/NĐ-CP ngày 17/11/2000 của Chính Phủ


Quyết định 23/2015/QĐ-UBND ngày 13/8/2015 của UBND tỉnh Hòa Bình về việc ban hành quy định vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Hòa Bình


Quy định cơ chế tự chủ của tổ chức KH&CN công lập. Nghị định số 54/2016/NĐ-CP


Quyết định về việc công bố thủ tục hành chính đã chuẩn hóa thuôc phạm vi chức năng quản lý của Sở Khoa học và Công nghệ Hòa Bình


Quyết định số 19/QĐ-SKHCN ngày 31/01/2018 về việc ban hành quy chế làm việc của Sở Khoa học và Công nghệ


Thông báo tuyển dụng lao động hợp đồng theo Nghị định số 68/2000/NĐ-CP ngày 17/11/2000 của Chính Phủ


Quyết định 23/2015/QĐ-UBND ngày 13/8/2015 của UBND tỉnh Hòa Bình về việc ban hành quy định vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Hòa Bình


Quy định cơ chế tự chủ của tổ chức KH&CN công lập. Nghị định số 54/2016/NĐ-CP


Quyết định về việc công bố thủ tục hành chính đã chuẩn hóa thuôc phạm vi chức năng quản lý của Sở Khoa học và Công nghệ Hòa Bình


Quyết định số 19/QĐ-SKHCN ngày 31/01/2018 về việc ban hành quy chế làm việc của Sở Khoa học và Công nghệ


Thông báo tuyển dụng lao động hợp đồng theo Nghị định số 68/2000/NĐ-CP ngày 17/11/2000 của Chính Phủ


Quyết định 23/2015/QĐ-UBND ngày 13/8/2015 của UBND tỉnh Hòa Bình về việc ban hành quy định vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Hòa Bình


Quy định cơ chế tự chủ của tổ chức KH&CN công lập. Nghị định số 54/2016/NĐ-CP


Quyết định về việc công bố thủ tục hành chính đã chuẩn hóa thuôc phạm vi chức năng quản lý của Sở Khoa học và Công nghệ Hòa Bình


Quyết định số 19/QĐ-SKHCN ngày 31/01/2018 về việc ban hành quy chế làm việc của Sở Khoa học và Công nghệ


Thông báo tuyển dụng lao động hợp đồng theo Nghị định số 68/2000/NĐ-CP ngày 17/11/2000 của Chính Phủ


Quyết định 23/2015/QĐ-UBND ngày 13/8/2015 của UBND tỉnh Hòa Bình về việc ban hành quy định vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Hòa Bình


Quy định cơ chế tự chủ của tổ chức KH&CN công lập. Nghị định số 54/2016/NĐ-CP


Quyết định về việc công bố thủ tục hành chính đã chuẩn hóa thuôc phạm vi chức năng quản lý của Sở Khoa học và Công nghệ Hòa Bình


Quyết định số 19/QĐ-SKHCN ngày 31/01/2018 về việc ban hành quy chế làm việc của Sở Khoa học và Công nghệ


Thông báo tuyển dụng lao động hợp đồng theo Nghị định số 68/2000/NĐ-CP ngày 17/11/2000 của Chính Phủ


Quyết định 23/2015/QĐ-UBND ngày 13/8/2015 của UBND tỉnh Hòa Bình về việc ban hành quy định vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Hòa Bình


Quy định cơ chế tự chủ của tổ chức KH&CN công lập. Nghị định số 54/2016/NĐ-CP


Quyết định về việc công bố thủ tục hành chính đã chuẩn hóa thuôc phạm vi chức năng quản lý của Sở Khoa học và Công nghệ Hòa Bình



Dan hoi GD So tra loi
bkhcn
DCS-VN chinh-phu
tap chi KHCN Báo Khoa học & Phát triển
NASATI Varans
Dich vu hanh chinh cong

Thống kê truy cập

1664554
Hôm nay
Hôm qua
Tuần này
Tuần trước
Tháng này
Tháng trước
Tất cả các ngày
790
834
6618
1650426
25919
39567
1664554

Your IP: 18.232.55.175
2020-01-26 17:24