Banner 1222x465 2

DO LUONG

232323232

DOLUONG

QUYPHAT

Banner 06

Untitled333333333
THUVIENKHCN
cam cao phong
Untitled2
Web hosting
pctn77845

Thực hiện Kế hoạch Kiểm soát thủ tục hành chính (TTHC) năm 2020, ngày 06/11/2020, Bộ Khoa học và Công nghệ (KH&CN) tổ chức Hội nghị tập huấn nghiệp vụ kiểm soát thủ tục hành chính, triển khai cơ chế một cửa và TTHC trên môi trường điện tử năm 2020.

Tham dự Hội nghị có bà Nguyễn Thị Huệ - Phó Chánh Văn phòng Bộ; đại diện Cục Kiểm soát Thủ tục hành chính, Văn phòng Chính phủ; đại diện Lãnh đạo một số đơn vị thuộc Bộ và các cán bộ, công chức làm đầu mối kiểm soát TTHC, bộ phận một cửa và công nghệ thông tin.

3 Toan canh IMG 4018

Toàn cảnh Hội nghị.

Trong Nghị quyết 30c/NQ-CP ngày 8/11/2011 của Chính phủ, cải cách TTHC là một trong 6 nội dung trọng tâm của Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011 - 2020. Theo đó, nhiệm vụ kiểm soát TTHC là tiền đề quan trọng, góp phần nâng cao chất lượng của TTHC trong các văn bản quy phạm pháp luật với mục tiêu chỉ ban hành những TTHC cần thiết, có lợi cho người dân, doanh nghiệp với chi phí tuân thủ TTHC thấp nhất.

Hội nghị tập huấn là dịp để Lãnh đạo, công chức/viên chức các đơn vị củng cố, bổ sung, nâng cao kiến thức, kỹ năng nghiệp vụ kiểm soát TTHC, nhất là những nội dung, quy định mới được Chính phủ ban hành. Tại Hội nghị, đại diện các đơn vị đã trình bày nhiều nội dung mới liên quan đến công tác kiểm soát TTHC của Bộ KH&CN; Giới thiệu về Nghị quyết số 68/NQ-CP ngày 12/5/2020 của Chính phủ về chương trình cắt giảm, đơn giản hóa quy định liên quan đến hoạt động kinh doanh giai đoạn 2020 – 2025; Tổng quan về Nghị định 45/2020/NĐ-CP về thực hiện TTHC trên môi trường điện tử; Hướng dẫn rà soát, đánh giá, tái cấu trúc quy trình nghiệp vụ TTHC, lựa chọn TTHC để xây dựng, triển khai dịch vụ công trực tuyến trên Cổng Dịch vụ công quốc gia và Cổng Dịch vụ công của Bộ; Tổ chức triển khai cơ chế một cửa theo quy định tại Nghị định 61/2018/NĐ-CP và Thông tư 01/2018/TT-VPCP hướng dẫn thi hành Nghị định 61/2018/NĐ-CP tại Bộ KH&CN; Hệ thống phần mềm một cửa điện tử của Bộ và hướng dẫn tiếp nhận, giải quyết TTHC trên Cổng Dịch vụ công và Hệ thống phần mềm một cửa điện tử của Bộ; hướng dẫn rà soát, đánh giá TTHC và tính chi phí tuân thủ TTHC…

1 Pho CVP Bo IMG 39891

Bà Nguyễn Thị Huệ - Phó Chánh Văn phòng Bộ phát biểu tại Hội nghị.

Theo báo cáo tại Hội nghị, về kết quả công tác kiểm soát TTHC giai đoạn 2016 – 2020, tổng số TTHC thuộc phạm vi quản lý của Bộ là 334 TTHC, tăng 14% so với năm 2015 (287 TTHC), có 21 đơn vị thực hiện kiểm soát TTCH, 43 cán bộ đầu mối. Bộ đã thành lập, kiện toàn bộ phận một cửa của Bộ KH&CN tại 6 đầu mối, xây dựng Cổng Dịch vụ công, Hệ thống thông tin một cửa điện tử. Sau khi rà soát, đánh giá TTHC đã cắt giảm, đơn giản hóa 70 TTHC, trong đó đơn giản hóa 47 TTHC và bãi bỏ 23 TTHC.

Liên quan đến việc rà soát, đánh giá TTHC, Văn phòng Bộ có trách nhiệm chủ trì, xây dựng Kế hoạch rà soát, đánh giá TTHC trình Bộ trưởng trước ngày 31/01 hàng năm; đánh giá chất lượng rà soát của các đơn vị; tổng hợp kết quả, báo cáo Bộ trưởng xem xét, quyết định trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ hoặc bãi bỏ TTHC và các quy định liên quan.

Các đơn vị chủ trì rà soát, đánh giá TTHC có trách nhiệm rà soát, đánh giá TTHC theo kế hoạch; tổng hợp kết quả rà soát, đánh giá theo kế hoạch; tổng hợp, tiếp thu, giải trình phương án đơn giản hóa, sáng kiến cải cách TTHC do UBND cấp tỉnh đề xuất (nếu có); dự thảo quyết định phê duyệt phương án đơn giản hóa TTHC, sáng kiến cải cách TTHC trình Bộ trưởng xem xét, phê duyệt.

Các đơn vị thuộc Bộ có trách nhiệm xây dựng báo cáo về tình hình, kết quả thực hiện kiểm soát TTHC của quý, năm gửi Văn phòng Bộ chậm nhất ngày 20 của tháng cuối quý của kỳ báo cáo. Văn phòng Bộ tổng hợp nội dung, xây dựng báo cáo quý, năm gửi Văn phòng Chính phủ chậm nhất ngày 22 của tháng cuối quý của kỳ báo cáo.

2 VPCP IMG 4012

Đại diện Cục Kiểm soát Thủ tục hành chính, Văn phòng Chính phủ báo cáo tham luận tại Hội nghị.

Tại Hội nghị, các đại biểu đã trao đổi, thảo luận nhằm tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai thực hiện kiểm soát TTHC, triển khai cơ chế một cửa và TTHC trên môi trường điện tử./.

Nguồn: most.gov.vn

Cục Sở hữu trí tuệ trân trọng giới thiệu đến bạn đọc Hướng dẫn chung về Thẩm định nội dung Kiểu dáng công nghiệp của các nước ASEAN trong khuôn khổ Dự án hợp tác giữa ASEAN và EU về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ (ECAPIII).

Trong khuôn khổ Dự án hợp tác giữa ASEAN và EU về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ (ECAPIII), nhằm nâng cao chất lượng, tính nhất quán và minh bạch hóa công việc do các cơ quan sở hữu trí tuệ ASEAN thực hiện với việc thẩm định và đăng ký kiểu dáng công nghiệp, Ban chỉ đạo dự án ECAP đã phê duyệt kế hoạch tổ chức xây dựng "Hướng dẫn chung" để áp dụng bởi các cơ quan SHTT các nước ASEAN.

232 11 05 Hướng dẫn thẩm định nội dung KDCN

Tất cả các nước ASEAN đều đã và đang trong quá trình phê duyệt các quy định pháp luật về Kiểu dáng công nghiệp (dưới dạng một luật riêng hoặc dưới dạng chương hoặc điều khoản trong luật) cũng như rất nhiều quy định dưới luật, bao gồm những quy định hướng dẫn thi hành và quyết định hành chính bổ trợ khác.

232 11 05 Hướng dẫn thẩm định nội dung KDCN 2

Dự án xây dựng Hướng dẫn chung về thẩm định nội dung kiểu dáng công nghiệp của khu vực ASEAN một phần gặp trở ngại do có nhiều khác biệt tồn tại giữa các nước thành viên. 

Sự khác biệt trong luật pháp của các quốc gia sẽ đặt tới yêu cầu nội luật hóa nếu có bất ký thay đổi nào. Tuy nhiên, việc xây dựng Hướng dẫn chung cho cả khu vực có thể khuyến khích hài hòa hóa các tiêu chuẩn và điều kiện thẩm định kiểu dáng công nghiệp áp dụng trong khu vực. Các Nguyên tắc Chung này nhằm bổ sung các hướng dẫn để hỗ trợ các tiêu chí thẩm định kiểu dáng công nghiệp được áp dụng bởi các cơ quan SHTT khu vực ASEAN. 

232 11 05 Hướng dẫn thẩm định nội dung KDCN 3

Hướng dẫn chung này có thể được sử dụng như một công cụ đào tạo thiết thực cho các thẩm định viên kiểu dáng công nghiệp và như một tài liệu tham khảo cho các chuyên gia tư vấn chuyên ngành và các đại diện sở hữu công nghiệp. 

Trên thực tế, kiểu dáng công nghiệp cũng có thể nhận được bảo vệ ở các Quốc gia Thành viên ASEAN thông qua luật bản quyền, mức độ mà kiểu dáng công nghiệp được công nhận là “tác phẩm” hoặc “tác phẩm của mỹ thuật ứng dụng ”. Điều này có thể là do tuân thủ các tiêu chuẩn quốc tế theo Công ước Berne về bảo hộ các tác phẩm văn học và nghệ thuật năm 1886, được sửa đổi vào năm 1971, và từ các quy định trong luật bản quyền quốc gia bảo vệ các tác phẩm nghệ thuật ứng dụng. Tuy nhiên, các Nguyên tắc chung này không giải quyết được việc bảo hộ các thiết kế hoặc tác phẩm nghệ thuật ứng dụng chưa đăng ký theo luật bản quyền, hoặc hết hiệu lực. Trong khi phần lớn vấn đề được đề cập trong luật pháp quốc gia và thông lệ của các Quốc gia Thành viên ASEAN là nhất quán phù hợp với các Nguyên tắc chung trong bộ hướng dẫn, vẫn còn tồn tại một số khác biệt liên quan đến một vấn đề cụ thể. 

Sử dụng bộ hướng dẫn làm tài liệu tham khảo sẽ góp phần thống nhất các tiêu chuẩn và tiêu chí cho thẩm định kiểu dáng công nghiệp tại các nước thành viên ASEAN. Các đăng ký kiểu dáng công nghiệp vẫn phụ thuộc vào luật pháp quốc gia và các quy định của các Quốc gia Thành viên ASEAN.

Hướng dẫn chung về Thẩm định nội dung Kiểu dáng công nghiệp của các nước ASEAN bằng tiếng Anh có thể tải về tại đây.

Nguồn: most.gov.vn

Một số hướng tiếp cận trí tuệ nhân tạo trong nông nghiệp công nghệ cao; Robot sử dụng cho mục đích nông nghiệp; Xây dựng các nguồn dữ liệu lớn đề phát triển các ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong nông nghiệp... là những xu hướng công nghệ trong cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 được đưa ra tại Hội thảo “Ứng dụng công nghệ thông tin và tự động hóa cho nông nghiệp công nghệ cao” tổ chức sáng 30/10 tại Học viện Nông nghiệp Việt Nam.

tcanhht1

Toàn cảnh hội thảo

Hội thảo “Ứng dụng công nghệ thông tin và tự động hóa cho nông nghiệp công nghệ cao” là một trong hoạt động nằm trong chuỗi các sự kiện “Tuần lễ Kết nối công nghệ và Đổi mới sáng tạo năm 2020” (Techdemo - Techmart - Growtech - Job fair – Startup) diễn ra từ ngày 30/10 đến ngày 2/11 do Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đồng tổ chức.

Phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao là xu hướng tất yếu

Hội thảo là cơ hội để cập nhật, cung cấp các kết quả nghiên cứu, thành tựu mới trong lĩnh vực công nghệ thông tin và tự động hóa phục vụ cho nông nghiệp. Hội thảo không chỉ có ý nghĩa thiết thực đối với các nhà khoa học mà còn hỗ trợ các doanh nghiệp, hội nông dân, các tổ chức, doanh nghiệp, những giải pháp công nghệ, cách tiếp cận mới trong việc phát triển nông nghiệp công nghệ cao ở Việt Nam.

Theo các chuyên gia, việc áp dụng các giải pháp công nghệ, kỹ thuật mang tính quyết định để nâng cao chất lượng nông sản, phát triển nền nông nghiệp công nghệ cao tại Việt Nam. Bên cạnh việc áp dụng công nghệ nhà kính, nhà màng..., các công nghệ truy xuất nguồn gốc giúp người dùng hiểu rõ chất lượng sản phẩm thực sự cần thiết.

Hiện nay, với sự bùng nổ của KH&CN, quá trình hội nhập quốc tế đòi hỏi chất lượng nông sản càng cao cùng với diện tích đất bị thu hẹp do đô thị hóa, do biến đổi khí hậu trong khi dân số tăng nên nhu cầu lương thực không ngừng tăng lên… là những thách thức rất lớn đối với sản xuất nông nghiệp.

Giải bài toán cho các vấn đề này, việc phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao được xem là xu hướng tất yếu. Phát triển nông nghiệp công nghệ cao, đổi mới KH&CN được coi là một trong những giải pháp then chốt, trọng tâm.

Ứng dụng KH&CN giải quyết các thách thức trong phát triển nông nghiệp bằng các ưu việt của các công nghệ như: Công nghệ sinh học, công nghệ nhà kính, công nghệ tưới nhỏ giọt, công nghệ cảm biến, tự động hóa, internet vạn vật… giúp sản xuất nông nghiệp tiết kiệm chi phí, tăng năng suất, hạ giá thành và nâng cao chất lượng nông sản, bảo vệ môi trường. Mặt khác, nông nghiệp công nghệ cao giúp nông dân chủ động trong sản xuất, khắc phục được tính mùa vụ, giảm sự lệ thuộc vào thời tiết, khí hậu, đáp ứng nhu cầu thị trường về chất lượng nông sản.

Hướng tới nền nông nghiệp 4.0

Có thể nói, các công nghệ của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 được nhắc đến khá nhiều tại Hội thảo. Đáng chý ý là bài trình bày “Một số hướng tiếp cận AI trong nông nghiệp công nghệ cao” của TS Phạm Thị Thu Hồng, Khoa Công nghệ thông tin, Học viện Nông nghiệp Việt Nam. Theo đó, những cảnh báo về nhu cầu thực phẩm, sự thu hẹp diện tích canh tác được đặt ra mang tính cấp thiết. Cụ thể, vào năm 2050, nền nông nghiệp cần tăng năng suất từ 60- 110% để đáp ứng nhu cầu lương thực trong khi diện tích đất nông nghiệp mở rộng mới chỉ tăng dưới 5%.

Trong khi đó, nền nông nghiệp phải đối diện với những thách thức như: nâng cao năng suất, biến đổi khí hậu (thay đổi nhiệt độ và lượng mưa, tác động gia tăng của thảm hoạ thiên nhiên: bão, lũ lụt, hạn hán); sâu bệnh; hệ thống tưới tiêu, giám sát sức khoẻ đất và cây trồng…

Trước thực tế này đòi hỏi phải canh tác thông minh để nâng cao năng suất, giảm thiểu tác động và thích ứng với biển đổi khí hậu. Và Robot tự động là một sản phẩm được thiết kế để xử lý các công việc thiết yếu như thu hoạch cây trồng với khối lượng lớn hơn và tốc độ nhanh hơn so với lao động của con người được áp dụng nhiều nước trên thế giới.

Robot nông nghiệp là robot được sử dụng cho mục đích nông nghiệp có thể cải thiện quy trình nông nghiệp. Việc sử dụng robot nông nghiệp nhằm đáp ứng tự động hoá vào nông nghiệp tạo ra những tiến bộ trong ngành nông nghiệp đồng thời giúp nông dân tiết kiệm tiền và thời gian. Robot nông nghiệp sử dụng trong các hệ thống sinh học như nông nghiệp, lâm nghiệp và thuỷ sản, thay thế các kỹ thuật thông thường làm cho nhiều công việc đơn giản hơn, nhanh hơn và hiệu qủa hơn.Việc sử dụng Robot trong nông nghiệp sẽ giúp tốc độ nhanh, có thể làm việc trong môi trường độc hại, nguy hiểm và có thể làm các công việc lặp đi lặp lại, có thể làm việc với độ chính xác.

Robot nông nghiệp được thiết kế phù hợp với mục đích sử dụng để thay các công việc đòi hỏi nhiều sức lao động của con người như trong chăn nuôi: vắt sữa tự động, cắt lông cừu, dọn rửa chuồng… Robot sử dụng trong trồng trọt như làm đất (cày bừa, gieo hạt, bón phân, làm cỏ, thu hoạch, phun thuốc cắt tỉa, theo dõi sinh trưởng và thu hoạch  cây trái…).

Ứng dụng Big Data và AI trong nông nghiệp và thu thập và phát triển các mô hình AI so sánh tác động của hệ thống tưới và kiểm soát phân bón và các loại đất đối với năng suất cây trồng cũng được đề cập tại hội thảo. Áp dụng AI mới có thể giúp người nông dân dễ dàng áp dụng phương pháp truy xuất nguồn gốc điện tử. Bởi nông dân vẫn có thể ghi chép bằng tay quá trình sản xuất, sau đó chỉ cần hệ thống quét và AI nhận diện chữ viết tay, các thông tin truy xuất hoàn toàn có thể đưa lên hệ thống. Nhờ vậy, phương pháp truy xuất mới có thể được triển khai rộng rãi.

Tuy nhiên, để ứng dụng AI trong nông nghiệp một cách rộng rãi thì nhiều ý kiến tại hội thảo cho rằng, cần bổ sung nguồn nhân lực, cơ sở dữ liệu, đặc biệt là cần có hệ thống chính sách thống nhất…

Mo hinh dung dung tu dong hoa trong Nong nghiep

Mô hình ứng dụng tự động hóa trong sản xuất nông nghiệp

Nguồn: most.gov.vn

Để câu nói “lấy doanh nghiệp làm trung tâm đổi mới sáng tạo quốc gia” đi vào thực chất và lan tỏa các giá trị của đổi mới sáng tạo trong xã hội, Bộ Khoa học và Công nghệ (KH&CN) và Bộ Kế hoạch và Đầu tư (KH&ĐT) sẽ tiếp tục phối hợp chặt chẽ công tác giai đoạn 2021-2025, trong đó có việc thúc đẩy Khu CNC Hòa Lạc trở thành cái lõi R&D của cả nước.

Hai bo KHCN va KH DT lam viec a1

Bộ trưởng Chu Ngọc Anh và Bộ trưởng Nguyễn Chí Dũng đến thăm dự án VKIST. Ảnh: Hoàng Nam.

Đó là trọng tâm của buổi làm việc giữa Bộ trưởng Bộ KH&CN Chu Ngọc Anh và Bộ trưởng Bộ KH&ĐT Nguyễn Chí Dũng, diễn ra vào ngày 10/9/2020. Không phải ngẫu nhiên mà địa điểm buổi làm việc này lại là Khu CNC Hòa Lạc, một trong ba vườn ươm công nghệ cao của Việt Nam và được đặt kỳ vọng sẽ trở thành những thành phố công nghệ trong tương lai. Không riêng gì Bộ KH&CN, cơ quan chủ quản của Khu CNC Hòa Lạc, mà cả Bộ KH&ĐT cũng đều mong mỏi Hòa Lạc sẽ là một trong những điểm khởi nguồn của công nghệ mới ở Việt Nam và lựa chọn nơi này là điểm xây dựng Trung tâm Đổi mới sáng tạo quốc gia, một đơn vị sự nghiệp công lập được thành lập để hỗ trợ, phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo, góp phần đổi mới mô hình tăng trưởng trên nền tảng KH&CN.

Do đó, trong buổi làm việc này, khi Bộ trưởng Nguyễn Chí Dũng bày tỏ hi vọng “Chúng tôi tiếp cận với KH&CN và đổi mới sáng tạo để trả lời câu hỏi ‘KH&CN tác động thế nào đến nền kinh tế và nền kinh tế tận dụng thể nào KH&CN để phát triển?’” Quan điểm đó đã nhận được sự chia sẻ của Bộ trưởng Chu Ngọc Anh, “nếu muốn tập trung cao độ vào phát triển sản phẩm của Việt Nam thì không thể không có R&D. Công việc đó doanh nghiệp không thể tự mình làm được, cần phải có sự hỗ trợ của nhà nước để hoàn thiện công nghệ mới và ra được đến sản phẩm trên quy mô công nghiệp”.

Điểm khuyết thiếu

Diễn ra trong bối cảnh Việt Nam đang bước vào giai đoạn mới của đại dịch Covid-19, cuộc họp bàn đã đề cập đến tình hình ứng phó dịch bệnh của Việt Nam, trong đó có câu chuyện về bộ kit xét nghiệm virus SARS-CoV-2 trên công nghệ RT-PCR “chuẩn vàng”, một sản phẩm hợp tác giữa Học viện Quân y và Công ty Công nghệ sinh học Việt Á theo đơn đặt hàng của Bộ KH&CN. Bộ trưởng Chu Ngọc Anh nhận xét “Tôi nghĩ rằng việc làm ra một bộ kit xét nghiệm nhanh đạt tiêu chuẩn quốc tế ngay đợt đầu của đại dịch của hai đơn vị này thực chất có một điểm xuất phát thuận lợi, đó là họ đã có được công nghệ lõi từ trước và có kinh nghiệm tích lũy qua nhiều năm, không phải muốn là có ngay”.

Bộ trưởng Chu Ngọc Anh cũng điểm qua một số yếu tố để Học viện Quân y có thể “đánh nhanh, thắng nhanh” trong khi phải chạy đua với thời gian làm ra bộ kit theo đúng yêu cầu của Bộ KH&CN: quy trình one step real-time RT – PCR đã được các nhà nghiên cứu của học viện thử nghiệm thành công trên bộ kit phát hiện virus Ebola bốn năm trước và được Cục Sở hữu trí tuệ (Bộ KH&CN) cấp bằng độc quyền giải pháp hữu ích; các kinh nghiệm thu được từ các đề tài do Quỹ NAFOSTED và những đề tài thuộc nhiều chương trình KH&CN quốc gia khác của Bộ KH&CN đầu tư cho học viện; Việt Á cũng tham gia thực hiện nhiều đề tài sản xuất thử nghiệm trong các chương trình KC04, KC10… “Cả Học viện Quân y và Việt Á đều có chặng đường dài thử nghiệm trên hệ thống cơ sở hạ tầng được đầu tư sẵn có nữa. Điều này chính là nền tảng để đến thời điểm cần thiết họ có thể tăng tốc và đưa ra sản phẩm có chất lượng”.

Câu chuyện về việc hợp tác phát triển và sản xuất thành công bộ kit đúng thời điểm và đạt tiêu chuẩn quốc tế của một đơn vị nghiên cứu với một doanh nghiệp như vậy đều có bóng dáng của nhà nước thông qua các chương trình KH&CN do Bộ KH&CN quản lý, điều hành. Tuy nhiên, không có nhiều doanh nghiệp tận dụng được cơ hội từ các cơ quan quản lý như Việt Á, chưa xây dựng được năng lực cho mình để có thể từng bước tham gia được vào chuỗi giá trị của các doanh nghiệp FDI. “Đây là điều chúng tôi trăn trở suy nghĩ suốt nhiều lần ‘tại sao doanh nghiệp không lớn được, không gắn được với doanh nghiệp FDI, tại sao giá trị gia tăng không thuộc về chúng ta?’”, Bộ trưởng Nguyễn Chí Dũng nêu hiện trạng và đưa ra một lý giải. “Tôi vẫn cứ cho rằng, vấn đề mấu chốt và cốt lõi là nền tảng công nghệ của chúng ta kém và chúng ta không nắm được công nghệ mới. Người ta không chuyển giao công nghệ mới đâu nên muốn thay đổi thì mình phải làm chủ công nghệ, bật lên từ công nghệ”.

Doanh nghiệp mà hai Bộ trưởng nhắc đến ở đây là những doanh nghiệp vừa và nhỏ, đối tượng năng động bậc nhất của nền kinh tế và cũng là nơi cần nhận được sự hỗ trợ nhiều nhất khi không có nhiều kinh phí đầu tư cho R&D như một số “ông lớn” như Viettel, FPT hay Phenikaa… Do đó, theo quan điểm của Bộ trưởng Chu Ngọc Anh, những đầu tư cho nghiên cứu và hỗ trợ tạo dựng kết nối trường, viện – nhà sản xuất như thế này vẫn còn chưa đủ để đảm bảo làm chủ được công nghệ mà còn phải thêm một khâu hỗ trợ khác để sản phẩm đầu ra đạt được những tiêu chuẩn như mong muốn. “Mục tiêu cuối cùng của chúng ta không chỉ là số lượng đầu tư cho các bên, cũng không phải là số bằng sáng chế mà cuối cùng phải ra sản phẩm công nghệ cao”, ông phân tích. “Tuy nhiên chúng tôi thấy là để có được sản phẩm như vậy thì vẫn còn thiếu khâu cuối cùng, đó là hạ tầng kiểm tra thiết bị và hoàn thiện cho ra sản phẩm. Một mình doanh nghiệp không thể tự giải quyết được khâu đó.

Cùng tháo gỡ vướng mắc

Những điểm khuyết thiếu như vậy đã tồn tại trên con đường phát triển và gia nhập chuỗi giá trị lớn hơn của các doanh nghiệp mà chưa có giải pháp thỏa đáng. Đây là lý do mà theo Bộ trưởng Nguyễn Chí Dũng “chưa bao giờ từ KH&CN và đổi mới sáng tạo lại được lặp đi lặp lại nhiều thế. Bất kể chỗ nào cũng nói về nó, các định hướng chủ trương phát triển đều phải nói về nó” nhưng từ ý chí đến thực tế còn một khoảng cách dài.

Để có giải pháp tháo gỡ thỏa đáng cho các doanh nghiệp Việt Nam, Bộ KH&CN và Bộ KH&ĐT sẽ có những hợp tác mới giai đoạn 2021-2025. Một trong những tâm điểm của kế hoạch hành động này là: Bộ KH&CN đề xuất đầu tư nhóm dự án về hạ tầng đổi mới sáng tạo với bốn dự án KH&CN gắn liền mục tiêu “đổi mới sáng tạo thực sự trở thành cột trụ cho động lực phát triển kinh tế”. Đây sẽ là cơ hội để các cơ quan quản lý nhà nước tăng cường hỗ trợ cho các kết quả nghiên cứu để góp phần cùng doanh nghiệp đưa nó thành công nghệ và sản phẩm chất lượng cao.

Một là, dự án đầu tư phát triển hạ tầng chuẩn đo lường quốc gia hỗ trợ nâng cao năng lực cạnh tranh và hội nhập quốc tế giai đoạn 2021-2025 định hướng đến 2030. Ông Nguyễn Nam Hải, Vụ trưởng Vụ Kế hoạch Tài chính (Bộ KH&CN) lý giải: ‘Để hỗ trợ các ngành công nghiệp, Việt Nam cần một hạ tầng chất lượng quốc gia với ba mảng: xây dựng đầy đủ tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật và hạ tầng liên quan đến đo lường, đánh giá sự phù hợp. Trong đó, Viện Đo lường quốc gia Việt Nam là thành tố rất quan trọng, là nơi tập trung các chuẩn quốc gia hàng đầu. Nếu hoàn thiện được hệ thống chuẩn đo lường quốc gia trong 41 lĩnh vực đạt trình độ trong khu vực đạt top 4 Asean thì Việt Nam có điều kiện đảm bảo độ chính xác đo lường trong lĩnh vực công nghiệp thu hút những hoạt động nghiên cứu phát triển, thiết kế chế tạo sản phẩm của những tập đoàn lớn”. Bộ KH&CN hi vọng, khi được triển khai đồng bộ, dự án sẽ tạo điều kiện nâng cao vấn đề đảm bảo đo lường của rất nhiều doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp của Việt Nam.

Hai là, dự án đầu tư nâng cao năng lực kỹ thuật Trung tâm kỹ thuật Tiêu chuẩn đo lường chất lượng 3 giai đoạn 2021-2025 đáp ứng tiêu chuẩn trung tâm đo lường, thử nghiệm hàng đầu khu vực trong một số lĩnh vực trọng điểm. Dự án có mục tiêu tăng cường đầu tư trong một số lĩnh vực trọng điểm về đo lường, thử nghiệm hoàn chỉnh, đồng bộ theo đúng tiêu chuẩn, chuẩn mực của hệ thống phòng thử nghiệm hiện đại, tương đương tiêu chuẩn quốc tế. Trong thời gian qua, Trung tâm kỹ thuật này đã phục vụ hiệu quả cho vấn đề phát triển kinh tế của khu vực phía Nam. Các doanh nghiệp có hàng xuất khẩu sang thị trường khó tính như châu Âu, Mỹ… đều cần phải trải qua quá trình đánh giá sự phù hợp của Trung tâm. Trong giai đoạn tới, với định hướng phát triển theo hướng công nghệ cao thì Trung tâm cần đầu tư một số lĩnh vực mới như an toàn thực phẩm, sản phẩm biến đổi gene, năng lượng, vật liệu mới…

Ba là, đầu tư hoàn thiện mạng quan trắc và cảnh báo phóng xạ môi trường quốc gia. Trong bối cảnh quốc gia láng giềng là Trung Quốc xây dựng và chuẩn bị đưa vào vận hành nhiều tổ máy điện hạt nhân thì việc đầu tư hệ thống này có ý nghĩa quan trọng để có thể cảnh báo kịp thời trong trường hợp xảy ra sự cố nhà máy điện hạt nhân và có ngay phương án đối phó. Mục tiêu của dự án là trong giai đoạn 2021-2025 sẽ hoàn thiện trung tâm điều hành quốc gia ở Hà Nội và ba trạm quan trắc cấp vùng ở Hà Nội, Đà Lạt, TP HCM cùng với việc xây dựng một trạm vùng mới tại Đà Nẵng; bên cạnh đó sẽ hoàn thiện thiết bị quan trắc cho hai trạm địa phương tại Lạng Sơn và Lào Cai, xây dựng mới 15 trạm địa phương khác.

Bốn là, dự án đầu tư xây dựng Trung tâm phát triển sản phẩm và doanh nghiệp công nghệ cao. Trung tâm là một đơn vị thực hiện các nhiệm vụ: R&D, dịch vụ KHCN và phát triển công nghệ cao, đồng thời là đầu mối để liên kết, tăng cường năng lực R&D giữa đơn vị nghiên cứu trong và ngoài Khu với các doanh nghiệp trong Khu CNC và cả trong, ngoài nước. Mục tiêu hoạt động của Trung tâm là thực hiện nghiên cứu, liên kết để nghiên cứu nhằm tạo ra các công nghệ cao và sáng chế, liên kết các doanh nghiệp để sản xuất các sản phẩm CNC nhằm đạt được các mục tiêu cụ thể về phát triển KT-XH trong từng giai đoạn. Ngoài ra, trung tâm cũng sẽ đóng vai trò liên kết với các đơn vị, trung tâm đổi mới sáng tạo của quốc gia, bộ, địa phương và cùng các nhà khoa học, trung tâm đổi mới sáng tạo quốc tế xây dựng, phát triển doanh nghiệp công nghệ cao, hình thành doanh nghiệp spin off, doanh nghiệp khởi nghiệp, kết nối doanh nghiệp vừa và nhỏ với tập đoàn lớn.

Hai bo KHCN va KH DT lam viec a2

Các kỹ sư của Viettel thử nghiệm thiết bị thông tin quân sự. Ảnh: Trần Thọ/QĐND

Bộ trưởng Nguyễn Chí Dũng cho rằng, nhóm dự án đó là nền tảng quan trọng để tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp Việt Nam. Ông nhấn mạnh đến ý nghĩa của nó: “Đây là những việc hai bộ có thể làm tốt để hỗ trợ doanh nghiệp, trong đó Hòa Lạc sẽ góp phần đem lại những công trình mang tính dẫn dắt và tạo sự đồng bộ trong các tiêu chuẩn sản phẩm chất lượng cao, qua đó chúng ta có thể thu hút được các tập đoàn công nghệ lớn đầu tư cho công nghệ và đưa R&D trở thành cái lõi của doanh nghiệp cả nước.

Với quan điểm là sẽ luôn ủng hộ hết mình cho dự án có thể mang đến bước phát triển đột phá cho đất nước, Bộ trưởng Nguyễn Chí Dũng đề xuất, Bộ KH&CN cần tạo ra những dự án có ý nghĩa như những ‘cú đấm thép’ với sự phát triển KT-XH để Việt Nam có thể tận dụng cơ hội bứt phá trong cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư.

"Mục tiêu của chúng ta không chỉ là số bằng sáng chế mà phải là phát triển những sản phẩm công nghệ cao ở quy mô công nghiệp. Tuy nhiên, để có được sản phẩm như vậy, chúng ta cần hạ tầng kiểm tra thiết bị và hoàn thiện sản phẩm.

Công việc đó, doanh nghiệp không thể tự giải quyết được, mà cần có sự hỗ trợ của nhà nước."

Bộ trưởng Bộ KH&CN Chu Ngọc Anh

"Bốn dự án về hạ tầng đổi mới sáng tạo - một trong những trọng điểm của sự hợp tác giữa Bộ KH&CN và Bộ KH&ĐT trong giai đoạn 2021-2025 là nền tảng quan trọng tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp Việt Nam; và các tập đoàn công nghệ lớn của nước ngoài nghiên cứu, sản xuất các sản phẩm CNC nhằm đạt được các mục tiêu cụ thể về phát triển KT-XH trong từng giai đoạn."

Bộ trưởng Bộ KH&ĐT Nguyễn Chí Dũng

Hai Bộ đã phối hợp xây dựng cơ chế, chính sách và pháp luật, và cùng nhau thực hiện các nhiệm vụ:

Phối hợp tích cực trong quá trình xây dựng cơ chế chính sách pháp luật như xây dựng Luật đầu tư đảm bảo sự đồng bộ, thống nhất với Luật Chuyển giao công nghệ năm 2017 và nhấn mạnh về các nội hàm ưu đãi đầu tư về hoạt động chuyển giao công nghệ nói riêng cũng như với doanh nghiệp KHCN, CNC và ĐMST;

Xây dựng các nội dung liên quan về chính sách ưu đãi cho các cơ sở ươm tạo công nghệ, cơ sở ươm tạo doanh nghiệp KH&CN, cũng như cắt giảm các thủ tục kinh doanh cho các đối tượng là doanh nghiệp khởi nghiệp ĐMST, dự án đầu tư khởi nghiệp sáng tạo, trung tâm ĐMST, phối hợp với các nội dung khác trong nghị định nhằm hướng dẫn luật hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa và Luật đầu tư;

Phối hợp xây dựng các nội dung trong các Nghị định nhằm hướng dẫn Luật hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa và Luật đầu tư; Tích cực phối hợp để đưa nội hàm KH&CN vào các đột phá chiến lược trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) giai đoạn 2011-2020, cụ thể hóa các nhiệm vụ trong tâm phát triển KT-XH 5 năm 2016-2020;

Tham gia ý kiến đối với nhiều dự thảo văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến ODA, viện trợ nước ngoài, phối hợp để tạo điều kiện thu hút và triển khai các dự án FDI, đặc biệt trong lĩnh vực công nghệ cao và công nghệ 4.0.

Nguồn: most.gov.vn

Vấn đề an toàn vệ sinh thực phẩm, nông sản ở Việt Nam luôn là vấn đề nóng không những đối với tiêu dùng trong nước mà cả xuất khẩu. Đâu là giá trị và minh bạch của thông tin an toàn nông sản, thực phẩm Việt là câu hỏi lớn được đặt ra không chỉ với nhà quản lý mà cả với doanh nghiệp/ các tổ chức trung gian, nhà nông và nhà nhập khẩu cũng như người tiêu dùng cần được giải quyết dứt điểm nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của nông sản Việt, đồng thời bảo đảm sức khỏe cho cộng đồng. Nhận thức được điều đó cộng đồng doanh nghiệp xuất khẩu nông sản Việt Nam đã mở rộng mạng lưới kinh doanh của mình vươn ra các nước trong khu vực và trên thế giới mà đầu vào của quá trình này là cùng với những người nông dân, chủ trang trại đẩy mạnh việc ứng dụng bộ tiêu chuẩn thực hành nông nghiệp tốt toàn cầu (GLOBAL GAP) và các công nghệ tiên tiến trong quá trình nuôi trồng, chế biến, bảo quản và thương mại hóa sản phẩm nông sản, thực phẩm, đồng thời phát triển tính tường minh nguồn gốc và chất lượng nông sản trong quá trình hội nhập. Thời gian qua, nhiều doanh nghiệp đã và đang tìm hiểu và thực hiện việc tuân thủ bộ tiêu chuẩn GLOBAL GAP và khả năng ứng dụng công nghệ blockchain trong truy xuất nguồn gốc nông sản, thực phẩm.

Mạng lưới tiêu chuẩn GLOBAL GAP có mặt và phát triển  tại 5 châu lục với hơn 10 ngôn ngữ khác nhau, với một lượng khách hàng khoảng 210.000 công ty đã được chứng nhận tại hơn 130 quốc gia/ nền kinh tế trên thế giới. Hệ thống đánh giá sự tuân thủ và giám sát việc thực thi của các công ty chứng nhận (nhánh của GLOBAL GAP) đã và đang là những đòn bẩy cho doanh nghiệp kinh doanh nông sản và nhà nông khắp nơi trên thế giới có thể chủ động tham gia vào chuỗi giá trị nông sản toàn cầu. Mô hình quản trị GLOBAL GAP gần gũi và thiết thực thông qua hình thức quản trị bởi Ban chỉ đạo do các thành viên bầu ra. Mạng lưới có hơn 1.000 chuyên gia quốc tế làm việc trong các ban kỹ thuật, nhóm công tác quốc gia và nhóm chuyên trách khác; và hơn 2.000 đánh giá viên làm việc tại hơn 160 công ty tư vấn trên toàn cầu để hỗ trợ nông dân đạt chứng nhận. Bên cạnh đó, thông qua cơ sở dữ liệu trực tuyến của GLOBAL GAP, người dùng có thể kiểm tra sản phẩm có được chứng nhận hay không và cả tính hiệu lực của chứng nhận. Ngoài ra, tiêu chuẩn của GLOBAL GAP có thể hợp chuẩn với các tiêu chuẩn khác trên thế giới với 13 chữ số ký mã hiệu LGN. Hiện nay GLOBALGAP đã có hệ thống đăng ký chứng nhận lên đến 600 sản phẩm nông lâm sản và sinh vật cảnh.

46 VISTIP 1

Chuyên gia của GLOBALGAP đánh giá việc áp dụng Bộ tiêu chuẩn GLOBAL GAP tại Việt Nam trong thời gian vừa qua (ảnh VISTIP)

Hiện nay có nhiều sản phẩm khi truy xuất nguồn gốc bằng phương pháp thủ công hoặc bằng mã QR thông thường chỉ thuần túy dẫn tới website của doanh nghiệp cung cấp sản phẩm đó. Cách làm như vậy khiến mã QR không thực hiện đúng chức năng truy xuất nguồn gốc mà giảm tính minh bạch khi doanh nghiệp chủ động đưa hoặc chỉnh sửa thông tin an toàn nông sản theo mong muốn của mình, các đơn vị cung cấp tem dán mã QR có thể can thiệp chỉnh sửa thông tin của sản phẩm.

Với công nghệ Blockchain, thông tin không thể chỉnh sửa vì mỗi một dữ liệu của từng công đoạn sẽ được lưu lại thành một khối (block) và được tuần tự đưa lên chuỗi theo trình tự thời gian thực; thông tin được đưa lên phải được sự đồng thuận của tất cả các bên tham gia trong chuỗi (sản xuất, đóng gói, phân phối…) và thông tin đã đưa lên thì không thể gỡ xuống hay thay đổi được. Thông qua ứng dụng công nghệ này vào quá trình sản xuất và thương mại hóa nông sản, người dùng sẽ được cung cấp các thông tin cần thiết trong suốt quá trình từ quá trình canh tác, gieo trồng, chăm sóc, thu hái, đóng gói, bảo quản,vận tải… cũng như quy mô canh tác, thông tin của người sản xuất và các bên tham gia trong cả chu trình từ sản xuất đến tiêu dùng, góp phần tăng cường niềm tin của người tiêu dùng nói chung và nhà nhập khẩu nói riêng đối với chất lượng và độ an toàn của sản phẩm. Giải pháp truy xuất nguồn gốc thực phẩm bằng mã QR qua công nghệ Blockchain không chỉ mang lại lợi ích thiết thực cho người tiêu dùng mà ngay cả nhà sản xuất, phân phối thực phẩm cũng được hưởng lợi .. .

46 VISTIP 2

Đại diện Đại sứ quán Australia phát biểu trong một hội thảo đánh giá dự án hỗ trợ ứng dụng công nghệ blockchain truy xuất nguồn gốc nông sản tại TP Hồ Chí Minh (ảnh VISTIP)

Hòa chung xu hướng hội nhập quốc tế về KH&CN, cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư với sự phát triển như vũ bão của Internet kết nối vạn vật (IoT); trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (Bigdata), việc ứng dụng GLOBAL GAP và Blockchain giúp các cơ quan quản lý Nhà nước kiểm soát được tính minh bạch hóa thông tin của các chủ thể trong chuỗi cung ứng, chuỗi giá trị; giúp Chính phủ có cái nhìn rõ hơn về các hoạt động của thị trường và có thể truy vấn bất kỳ khâu nào của quá trình khi có nhu cầu thanh kiểm tra. Chính nhờ tính minh bạch này nên công nghệ Blockchain và chứng nhận đạt chuẩn GLOBAL GAP còn đóng vai trò quan trọng trong việc chống lại gian lận trong kinh doanh nông sản thực phẩm, góp phần làm lành mạnh hóa thị trường nông sản, thực phẩm trong nước cũng như trên thế giới, nên thiết nghĩ trong thời gian tới Việt Nam cần có các chính sách, chương trình cụ thể để người dân cũng như doanh nghiệp hiểu và ứng dụng phát huy ưu điểm của tiêu chuẩn GLOBAL GAP và công nghệ Blockchain để ngành nông nghiệp Việt Nam ngày càng có nhiều lô hàng nông sản được cấp phép xuất khẩu sang các nước như Úc, Nhật Bản, Hoa Kỳ.... mở rộng phạm vi tiêu thụ nông sản Việt ra nước ngoài và chiếm lĩnh được các thị trường siêu khó tính ở các quốc gia phát triển.

Nguồn: most.gov.vn

Tìm kiếm...

Thông báo mới

Quyết định số 19/QĐ-SKHCN ngày 31/01/2018 về việc ban hành quy chế làm việc của Sở Khoa học và Công nghệ


Quyết định về việc công bố thủ tục hành chính đã chuẩn hóa thuôc phạm vi chức năng quản lý của Sở Khoa học và Công nghệ Hòa Bình


Thông báo tuyển dụng lao động hợp đồng theo Nghị định số 68/2000/NĐ-CP ngày 17/11/2000 của Chính Phủ


Quyết định 23/2015/QĐ-UBND ngày 13/8/2015 của UBND tỉnh Hòa Bình về việc ban hành quy định vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Hòa Bình


Quy định cơ chế tự chủ của tổ chức KH&CN công lập. Nghị định số 54/2016/NĐ-CP


Quyết định số 19/QĐ-SKHCN ngày 31/01/2018 về việc ban hành quy chế làm việc của Sở Khoa học và Công nghệ


Quyết định về việc công bố thủ tục hành chính đã chuẩn hóa thuôc phạm vi chức năng quản lý của Sở Khoa học và Công nghệ Hòa Bình


Thông báo tuyển dụng lao động hợp đồng theo Nghị định số 68/2000/NĐ-CP ngày 17/11/2000 của Chính Phủ


Quyết định 23/2015/QĐ-UBND ngày 13/8/2015 của UBND tỉnh Hòa Bình về việc ban hành quy định vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Hòa Bình


Quy định cơ chế tự chủ của tổ chức KH&CN công lập. Nghị định số 54/2016/NĐ-CP


Quyết định số 19/QĐ-SKHCN ngày 31/01/2018 về việc ban hành quy chế làm việc của Sở Khoa học và Công nghệ


Quyết định về việc công bố thủ tục hành chính đã chuẩn hóa thuôc phạm vi chức năng quản lý của Sở Khoa học và Công nghệ Hòa Bình


Thông báo tuyển dụng lao động hợp đồng theo Nghị định số 68/2000/NĐ-CP ngày 17/11/2000 của Chính Phủ


Quyết định 23/2015/QĐ-UBND ngày 13/8/2015 của UBND tỉnh Hòa Bình về việc ban hành quy định vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Hòa Bình


Quy định cơ chế tự chủ của tổ chức KH&CN công lập. Nghị định số 54/2016/NĐ-CP


Quyết định số 19/QĐ-SKHCN ngày 31/01/2018 về việc ban hành quy chế làm việc của Sở Khoa học và Công nghệ


Quyết định về việc công bố thủ tục hành chính đã chuẩn hóa thuôc phạm vi chức năng quản lý của Sở Khoa học và Công nghệ Hòa Bình


Thông báo tuyển dụng lao động hợp đồng theo Nghị định số 68/2000/NĐ-CP ngày 17/11/2000 của Chính Phủ


Quyết định 23/2015/QĐ-UBND ngày 13/8/2015 của UBND tỉnh Hòa Bình về việc ban hành quy định vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Hòa Bình


Quy định cơ chế tự chủ của tổ chức KH&CN công lập. Nghị định số 54/2016/NĐ-CP


Quyết định số 19/QĐ-SKHCN ngày 31/01/2018 về việc ban hành quy chế làm việc của Sở Khoa học và Công nghệ


Quyết định về việc công bố thủ tục hành chính đã chuẩn hóa thuôc phạm vi chức năng quản lý của Sở Khoa học và Công nghệ Hòa Bình


Thông báo tuyển dụng lao động hợp đồng theo Nghị định số 68/2000/NĐ-CP ngày 17/11/2000 của Chính Phủ


Quyết định 23/2015/QĐ-UBND ngày 13/8/2015 của UBND tỉnh Hòa Bình về việc ban hành quy định vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Hòa Bình


Quy định cơ chế tự chủ của tổ chức KH&CN công lập. Nghị định số 54/2016/NĐ-CP


Quyết định số 19/QĐ-SKHCN ngày 31/01/2018 về việc ban hành quy chế làm việc của Sở Khoa học và Công nghệ


Quyết định về việc công bố thủ tục hành chính đã chuẩn hóa thuôc phạm vi chức năng quản lý của Sở Khoa học và Công nghệ Hòa Bình


Thông báo tuyển dụng lao động hợp đồng theo Nghị định số 68/2000/NĐ-CP ngày 17/11/2000 của Chính Phủ


Quyết định 23/2015/QĐ-UBND ngày 13/8/2015 của UBND tỉnh Hòa Bình về việc ban hành quy định vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Hòa Bình


Quy định cơ chế tự chủ của tổ chức KH&CN công lập. Nghị định số 54/2016/NĐ-CP


Quyết định số 19/QĐ-SKHCN ngày 31/01/2018 về việc ban hành quy chế làm việc của Sở Khoa học và Công nghệ


Quyết định về việc công bố thủ tục hành chính đã chuẩn hóa thuôc phạm vi chức năng quản lý của Sở Khoa học và Công nghệ Hòa Bình


Thông báo tuyển dụng lao động hợp đồng theo Nghị định số 68/2000/NĐ-CP ngày 17/11/2000 của Chính Phủ


Quyết định 23/2015/QĐ-UBND ngày 13/8/2015 của UBND tỉnh Hòa Bình về việc ban hành quy định vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Hòa Bình


Quy định cơ chế tự chủ của tổ chức KH&CN công lập. Nghị định số 54/2016/NĐ-CP


Quyết định số 19/QĐ-SKHCN ngày 31/01/2018 về việc ban hành quy chế làm việc của Sở Khoa học và Công nghệ


Quyết định về việc công bố thủ tục hành chính đã chuẩn hóa thuôc phạm vi chức năng quản lý của Sở Khoa học và Công nghệ Hòa Bình


Thông báo tuyển dụng lao động hợp đồng theo Nghị định số 68/2000/NĐ-CP ngày 17/11/2000 của Chính Phủ


Quyết định 23/2015/QĐ-UBND ngày 13/8/2015 của UBND tỉnh Hòa Bình về việc ban hành quy định vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Hòa Bình


Quy định cơ chế tự chủ của tổ chức KH&CN công lập. Nghị định số 54/2016/NĐ-CP



Dan hoi GD So tra loi
bkhcn
DCS-VN chinh-phu
tap chi KHCN Báo Khoa học & Phát triển
NASATI Varans
Dich vu hanh chinh cong

Thống kê truy cập

1978539
Hôm nay
Hôm qua
Tuần này
Tuần trước
Tháng này
Tháng trước
Tất cả các ngày
327
703
6334
1967981
18244
21822
1978539

Your IP: 3.238.147.211
2020-11-29 15:58