DO LUONG

ung dung

thong ke

DOLUONG

QUYPHAT

Khoi nghiep
 
cam cao phong

UDKHCN vao chan nuoi tttTheo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN và PTNT), với sự góp sức của các cơ quan liên quan, hiệp hội, doanh nghiệp…, nhất là Viện Chăn nuôi, thời gian qua nhiều tiến bộ kỹ thuật được áp dụng vào thực tiễn sản xuất, góp phần thúc đẩy ngành chăn nuôi phát triển.


Viện Chăn nuôi cho biết, giai đoạn 2015-2017, Viện đã, đang thực hiện 228 nghiên cứu khoa học và phần lớn đã được ứng dụng và chuyển giao vào thực tiễn sản xuất tại các vùng sinh thái trên cả nước. Trong đó có 10 tiến bộ kỹ thuật được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn công nhận và ứng dụng vào thực tế sản xuất với quy mô lớn, mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người chăn nuôi như: Chọn tạo được 14 dòng giống lợn, hơn 30 dòng giống gà, 30 dòng giống vịt ngan, bốn giống đà điểu, 10 giống trâu bò, một dòng cừu lai, một giống thỏ, bốn dòng ong mật, sáu giống cỏ... Chuyển giao vào sản xuất 18.674 lợn giống ông bà, bố mẹ, 33,285 triệu con gà giống ông bà và bố mẹ các loại, 5,68 triệu con vịt giống, 1,86 triệu con ngan giống, hơn 12 triệu quả trứng giống các loại, hơn hai tấn giống hạt cỏ, 28,87 nghìn tấn hom cỏ giống. Các giống gà nội và gà lai lông mầu của Viện chiếm khoảng 30 đến 35% thị phần; tinh bò đông lạnh chiếm hơn 60%, tinh trâu và tinh dê chiếm hơn 95% thị phần cả nước. Chọn lọc và cải tiến năng suất đàn lợn giống Landrace, Yorkshire, Duroc, Pietrain, VCN01, VCN02 nhập từ các nước: Pháp, Mỹ, Đan Mạch, Ca-na-đa và nguồn gốc PIC có tiềm năng sản xuất cao để tạo ra các dòng lợn ông bà và bố mẹ cung cấp cho sản xuất trên toàn quốc. Hai dòng gà ri cải tiến R1, R2 có chất lượng thịt thơm ngon, năng suất trứng và thịt cao hơn gà ri truyền thống từ 30 đến 35%, đã chiếm lĩnh hầu hết thị trường các tỉnh phía bắc và Trung Bộ.

Ngoài ra, Viện đã bảo tồn được 44 giống vật nuôi có nguy cơ tuyệt chủng và đưa vào nghiên cứu khai thác và phát triển được 43 nguồn gien động vật bản địa Việt Nam. Đồng thời, xác định được một số giải pháp xử lý chất thải trong chăn nuôi lợn trang trại, hoàn thiện, chuyển giao được hơn 40 quy trình kỹ thuật, thực hiện hơn 120 mô hình trình diễn về chăn nuôi lợn, bò thịt, gà, trâu, bò sữa…

Theo Tiến sĩ, Viện trưởng Chăn nuôi Nguyễn Thanh Sơn, kết quả trên là nhờ công sức, sự sáng tạo, nỗ lực nghiên cứu khoa học của hơn 1.100 cán bộ, công nhân viên toàn khối trong Viện. Tuy nhiên, do cơ sở vật chất chưa đầy đủ, diện tích đất tại một số đơn vị hạn chế, thiếu kinh phí hoạt động, cho nên việc triển khai công tác nghiên cứu, sản xuất, dịch vụ còn gặp nhiều khó khăn. Mặt khác, đội ngũ cán bộ khoa học tại một số đơn vị "mỏng", không có nhiều kinh nghiệm tổ chức thị trường, cho nên việc chuyển giao kết quả nghiên cứu, dịch vụ khoa học vào sản xuất còn khiêm tốn, chưa tạo được nhiều nguồn thu để trang trải các hoạt động và nâng cao đời sống cán bộ, viên chức. Chính sách ưu đãi đối với cán bộ khoa học chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể cho nên chưa triển khai thực hiện được trong thực tiễn. Một số nhà khoa học được đào tạo, có trình độ chuyên môn giỏi bị sức hút của các doanh nghiệp với mức lương cao dẫn đến chưa yên tâm công tác tại Viện.

Để đạt hiệu quả cao hơn trong nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ nghiên cứu di truyền, giống, dinh dưỡng và thức ăn vật nuôi; phát triển công nghệ chế biến, bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm các sản phẩm chăn nuôi…, thời gian tới, Bộ NN và PTNT cần tiếp tục ưu tiên đầu tư xây dựng Phân viện Chăn nuôi miền trung và Tây Nguyên. Cho phép Viện làm thí điểm chuyển đổi một số đơn vị đủ điều kiện hoạt động theo cơ chế doanh nghiệp. Bổ sung một số quy định về giao đất và cho thuê đất đối với tổ chức khoa học và công nghệ tham gia liên doanh, liên kết trong nghiên cứu và sản xuất dịch vụ…

bq sau thu hoach chuoi tieu hongNgày nay, khoa học công nghệ tiên tiến đã đưa ra hàng loạt các loại công cụ, máy móc chất lượng cao, nhằm mục đích bảo quản nông sản tốt hơn. Đây chính là giải pháp hữu hiệu để nhiều loại nông sản của nước ta rộng cửa tiến vào thị trường thế giới.


Kêu gọi cộng đồng giúp người sản xuất tiêu thụ sản phẩm là việc không còn mới với nhiều người dân nước ta trong thời gian gần đây. Tận mắt chứng kiến bắp cải, cà chua, dưa hấu bị bỏ mặc ngoài đồng, không ai thu hoạch mới thấy xót xa. Trong khi đó, người nông dân quanh năm “bán mặt cho đất, bán lưng cho trời” vẫn còn hết sức khó khăn. Được mùa, mất giá vẫn luôn là nỗi lo của người làm nông nghiệp.

Lý giải về tình trạng này không ít chuyên gia cho rằng, Việt Nam là một trong những nước dẫn đầu về xuất khẩu một số loại nông sản, nhưng tổn thất sau thu hoạch vẫn ở mức cao. Theo thống kê của Tổ chức Nông lương Liên hợp quốc (FAO), tổn thất sau thu hoạch đối với nông sản ở các nước đang phát triển lên đến 20 - 30%, nghĩa là chừng ấy tỷ lệ nông sản được sản xuất ra nhưng không đến được tay người tiêu dùng. Tại Việt Nam, tổn thất sau thu hoạch đối với cây có hạt là khoảng 10%, đối với cây có củ là 10 đến 20% và rau quả là 10 đến 30%. Nguyên nhân chủ yếu là do thu hoạch, đóng gói, vận chuyển và bảo quản không đúng cách. Do ứng dụng công nghệ sau thu hoạch yếu nên dẫn đến tình trạng khi dư thừa nông sản người sản xuất nông nghiệp không thể chuyển sang chế biến, bảo quản.

Vài năm gần đây, xuất khẩu rau quả của Việt Nam có bước phát triển khá mạnh, kim ngạch xuất khẩu tăng dần qua các năm và tăng hơn 30% trong năm 2016. Tuy vậy, có đến 65% giá trị xuất khẩu rau quả nằm ở thị trường Trung Quốc. Với vị trí địa lý khá thuận lợi, nếu vận chuyển qua đường biên giới thì chỉ cần ba đến năm ngày để giao hàng, nên các doanh nghiệp ít chú trọng đến việc đầu tư công nghệ bảo quản sau thu hoạch. Đây cũng là lý do chính khiến xuất khẩu rau quả sang các thị trường khó tính mặc dù đã có nhiều cải thiện, song vẫn còn nhiều hạn chế.

Theo Tiến sĩ Nguyễn Thanh Nghị (Trường Đại học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh), để nâng cao sức cạnh tranh của nông sản Việt, trong thời gian gần đây, vấn đề bảo quản nông sản sau thu hoạch được các nhà vườn, doanh nghiệp đặc biệt quan tâm. Một số công trình nghiên cứu bảo quản nông sản sau thu hoạch cũng đang cho những kết quả khả quan.

Mới đây, Viện Hóa học (thuộc Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam) đã nghiên cứu thành công màng bao gói biến đổi khí quyển (GreenMAP) giúp rau quả tươi lâu gấp ba lần bình thường mà không bị tác động của hóa chất. Công nghệ mới này sử dụng khá đơn giản, chi phí thấp, tỷ lệ tổn thất sau thu hoạch đã giảm xuống chỉ còn 5%; đồng thời phù hợp cho mục đích chiếu xạ theo yêu cầu của một số thị trường khó tính như Nhật Bản, Mỹ, Thụy Sĩ… Hiện, màng bao gói này đã được sử dụng ở vùng vải thiều Lục Ngạn (Bắc Giang); nho (Ninh Thuận); một số đơn vị sản xuất rau mầm, chuỗi cung ứng rau quả…

Dòng sản phẩm máy sấy nông sản cũng được nhiều đơn vị, doanh nghiệp nghiên cứu đưa vào ứng dụng rộng rãi. Đơn cử như máy sấy năng lượng mặt trời của Công ty cổ phần Công nghệ năng lượng bền vững Việt Nam; công nghệ sấy đảo chiều đa năng trong sấy nông sản của Trung tâm Năng lượng và Máy nông nghiệp (Trường đại học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh)… đang được kỳ vọng là giải pháp quan trọng cho một nền nông nghiệp xanh.

Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và Tư vấn nông nghiệp nhiệt đới TP Hồ Chí Minh - Tiến sĩ Nguyễn Đăng Nghĩa chia sẻ, việc nhiều doanh nghiệp tham gia vào thị trường sản xuất sản phẩm bảo quản nông sản là cách nhanh nhất để giảm tổn thất ở nông sản hiện nay. Bên cạnh đó, để cải thiện tình trạng áp dụng công nghệ vào khâu sau thu hoạch ở Việt Nam cần tăng cường thu hút nhân lực trẻ vào ngành nông nghiệp. Đào tạo cho họ kỹ năng vận hành công nghệ chính xác, phương pháp bảo quản nông sản ngay sau khi thu hoạch, cách thức làm lạnh, vận chuyển, nhất là cách thức bảo quản ở nơi tiêu thụ…

Bộ Khoa học và Công nghệ đã ban hành Thông tư số 07/2016/TT-BKHCN quy định quản lý Chương trình hỗ trợ ứng dụng, chuyển giao tiến bộ khoa học và công nghệ thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội nông thôn, miền núi, vùng dân tộc thiểu số giai đoạn 2016 - 2025.

Resize of Muopdang2

Theo đó, các dự án thuộc Chương trình được phân thành 2 nhóm: 1- Dự án do Bộ Khoa học và Công nghệ trực tiếp quản lý là dự án có quy mô lớn, kết quả dự kiến đạt được có khả năng ứng dụng rộng rãi ở nhiều tỉnh, thành phố; 2- Dự án ủy quyền cho UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quản lý là dự án không thuộc quy định trên.

Việc phân nhóm các dự án trên do Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ quyết định trên cơ sở ý kiến tư vấn của Hội đồng tư vấn xác định danh mục các dự án thuộc Chương trình do Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ thành lập.

Thông tư quy định, tổ chức chủ trì dự án là tổ chức được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật; có cơ sở vật chất kỹ thuật đảm bảo thực hiện dự án; có năng lực huy động nguồn kinh phí ngoài ngân sách và các nguồn lực khác thực hiện dự án; trực tiếp thực hiện dự án, tiếp thu và thụ hưởng kết quả dự án; có năng lực tổ chức liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị hàng hóa hoặc tổ chức sản xuất hàng hóa tạo sinh kế cho người dân tại vùng khó khăn, vùng dân tộc thiểu số.

Đồng thời, có trụ sở tại tỉnh, thành phố triển khai dự án trừ trường hợp đặc thù được Bộ Khoa học và Công nghệ xem xét, chấp thuận; không thuộc trường hợp không đủ điều kiện tham gia tuyển chọn, giao trực tiếp thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ quy định tại Điều 4 Thông tư số 10/2014/TT-BKHCN.

Chủ nhiệm dự án cần đáp ứng các yêu cầu sau: Là người lao động thuộc Tổ chức chủ trì dự án, có chuyên môn phù hợp, có trình độ từ tốt nghiệp cao đẳng trở lên về lĩnh vực công nghệ chuyển giao trong dự án và có ít nhất 3 năm kinh nghiệm công tác đối với người có trình độ đại học trở lên và ít nhất 5 năm đối với người có trình độ cao đẳng.

Tổ chức hỗ trợ ứng dụng công nghệ là tổ chức được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật; có đủ lực lượng cán bộ khoa học làm chủ công nghệ được ứng dụng, có khả năng chuyển giao công nghệ; là chủ sở hữu công nghệ hoặc có quyền chuyển giao hợp pháp công nghệ hoặc là Tổ chức chủ trì nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp Bộ, cấp tỉnh, cấp quốc gia sử dụng ngân sách nhà nước tạo ra công nghệ được ứng dụng chuyển giao.

Công nghệ được lựa chọn để ứng dụng

Thông tư nêu rõ, công nghệ lựa chọn để ứng dụng chuyển giao đáp ứng các yêu cầu sau: Hướng vào giải quyết những vấn đề có tầm quan trọng đối với phát triển kinh tế - xã hội của nơi thực hiện dự án và bảo đảm yêu cầu về bảo vệ môi trường sinh thái; phù hợp với nhu cầu phát triển và điều kiện thực tế của vùng miền, địa phương và mục tiêu của Chương trình; tiên tiến, có tính mới và hiệu quả hơn so với công nghệ hiện có đang áp dụng rộng rãi tại địa phương; đã có quy trình kỹ thuật ổn định, phù hợp với khả năng tiếp thu của các tổ chức và người dân nơi thực hiện dự án.

Đồng thời, được công nhận là tiến bộ kỹ thuật và công nghệ mới theo quy định của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hoặc được tạo ra từ nhiệm vụ khoa học và công nghệ sử dụng ngân sách nhà nước cấp Bộ, cấp tỉnh, cấp quốc gia đã được đánh giá, nghiệm thu từ mức đạt trở lên hoặc được Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ cho phép thực hiện chuyển giao.

Thời gian thực hiện dự án tối đa là 36 tháng. Đối với dự án trồng các loại cây lâu năm, trồng rừng, phát triển vùng nguyên liệu kết hợp chế biến và một số đối tượng đặc biệt khác thời gian có thể kéo dài hơn nhưng không quá 60 tháng.

Thông tin về dự án thuộc Chương trình được thông báo công khai trên trang thông tin điện tử của Đơn vị quản lý kinh phí (http://www.miennui.most.gov.vn) hoặc trên các phương tiện thông tin đại chúng khác theo quy định hiện hành.

Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 8/6/2016.

nguồn http://baochinhphu.vn/

Tìm kiếm...

Thông báo mới

Quy định cơ chế tự chủ của tổ chức KH&CN công lập. Nghị định số 54/2016/NĐ-CP


Quyết định về việc công bố thủ tục hành chính đã chuẩn hóa thuôc phạm vi chức năng quản lý của Sở Khoa học và Công nghệ Hòa Bình


Quy định cơ chế tự chủ của tổ chức KH&CN công lập. Nghị định số 54/2016/NĐ-CP


Quyết định về việc công bố thủ tục hành chính đã chuẩn hóa thuôc phạm vi chức năng quản lý của Sở Khoa học và Công nghệ Hòa Bình


Quy định cơ chế tự chủ của tổ chức KH&CN công lập. Nghị định số 54/2016/NĐ-CP


Quyết định về việc công bố thủ tục hành chính đã chuẩn hóa thuôc phạm vi chức năng quản lý của Sở Khoa học và Công nghệ Hòa Bình


Quy định cơ chế tự chủ của tổ chức KH&CN công lập. Nghị định số 54/2016/NĐ-CP


Quyết định về việc công bố thủ tục hành chính đã chuẩn hóa thuôc phạm vi chức năng quản lý của Sở Khoa học và Công nghệ Hòa Bình


Quy định cơ chế tự chủ của tổ chức KH&CN công lập. Nghị định số 54/2016/NĐ-CP


Quyết định về việc công bố thủ tục hành chính đã chuẩn hóa thuôc phạm vi chức năng quản lý của Sở Khoa học và Công nghệ Hòa Bình


Quy định cơ chế tự chủ của tổ chức KH&CN công lập. Nghị định số 54/2016/NĐ-CP


Quyết định về việc công bố thủ tục hành chính đã chuẩn hóa thuôc phạm vi chức năng quản lý của Sở Khoa học và Công nghệ Hòa Bình


Quy định cơ chế tự chủ của tổ chức KH&CN công lập. Nghị định số 54/2016/NĐ-CP


Quyết định về việc công bố thủ tục hành chính đã chuẩn hóa thuôc phạm vi chức năng quản lý của Sở Khoa học và Công nghệ Hòa Bình


Quy định cơ chế tự chủ của tổ chức KH&CN công lập. Nghị định số 54/2016/NĐ-CP


Quyết định về việc công bố thủ tục hành chính đã chuẩn hóa thuôc phạm vi chức năng quản lý của Sở Khoa học và Công nghệ Hòa Bình



bkhcn
DCS-VN chinh-phu
tap chi KHCN Báo Khoa học & Phát triển
NASATI Varans
khoahoctot  

Thống kê truy cập

0812109
Hôm nay
Hôm qua
Tuần này
Tuần trước
Tháng này
Tháng trước
Tất cả các ngày
628
550
4821
800581
16933
29991
812109

Your IP: 54.144.23.12
2017-08-18 16:26