DO LUONG

ung dung

thong ke

DOLUONG

QUYPHAT

Khoi nghiep
 
cam cao phong
UDCN021211C
Ứng dụng mạng lưới kết nối internet trong nông nghiệp công nghệ cao.
Ảnh minh hoạ: TTXVN

Ngày 28/11/2017, tại Hà Nội, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) đã tổ chức hội nghị lần thứ 2 - Cộng đồng Mở IoT Việt Nam (IOCV) “Ứng dụng IoT trong nông nghiệp công nghệ cao”.

Sự kiện có sự tham gia của gần 100 doanh nghiệp, tập đoàn từ nhiều lĩnh vực khác nhau như sản xuất, công nghệ thông tin, thương mại và dịch vụ.
Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 đã đánh dấu sự phát triển bùng nổ của các công nghệ đột phá như trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, điện toán đám mây, internet vạn vật, công nghệ sinh học, công nghệ nano….
Việc ứng dụng mạng lưới thiết bị kết nối Internet đang trở thành công nghệ có xu hướng ảnh hưởng ngày càng lớn đến đời sống con người, tác động rộng rãi trong nhiều lĩnh vực trong tương lai và là xu thế tất yếu của thế giới.
Phát biểu tại sự kiện, ông Hoàng Quang Phòng, Phó Chủ tịch VCCI nhấn mạnh tầm quan trọng của Cách mạng 4.0 đối với doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệt việc ứng dụng mạng lưới thiết bị kết nối Internet (IoT) trong nông nghiệp công nghệ cao.
Việc cộng đồng IOCV hoạt động sôi nổi vừa qua với việc hợp tác thành công các giải pháp kĩ thuật do các công ty Việt Nam xây dựng vào mô hình mẫu nông nghiệp nghệ cao tại Công ty cổ phần Đầu tư và Xây dựng Delco đã mở ra một cách làm hoàn toàn mới, giúp kiểm soát chất lượng sản phẩm, tiết kiệm nguồn lực và nâng cao năng lực cạnh tranh cho ngành.
Công ty CP Wala trực thuộc VNPT Technology là 1 trong các đơn vị tham gia ứng dụng demo trang trại thông minh Delco do Cộng đồng mở IoT Việt Nam (IOCV) phát triển. Trang trại thông minh Delco ứng dụng Internet of Things (IoT) để tự động hóa hoàn toàn công việc quản lý, theo dõi, vận hành toàn bộ quá trình trồng trọt và chăn nuôi. Trước đây khi chưa ứng dụng IoT, công ty cần khoảng từ 20-30 nhân công để quản lý, chăm sóc trang trại. Sau khi ứng dụng IoT, công ty chỉ cần 5 nhân công.
Ông Bùi Ngọc Sơn, Trưởng phòng kinh doanh Công ty CP Wala, VNPT Technology cho hay, công ty đang ứng dụng IoT trong trồng dưa lưới, trồng thủy canh và trong trang trại gà. Công ty có những cảm biến (sensor) để giám sát và có những chương trình điều khiển tự động để đưa ra các lệnh tự động, giảm sức lao động của con người và tăng độ chính xác lên cao hơn, từ đó đảm bảo chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm.
Cộng đồng mở IoT Việt Nam (IOCV) được Viện Tin học Doanh nghiệp thuộc Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam khởi xướng từ tháng 3 năm 2017. Cộng đồng gồm 21 công ty công nghệ, nhằm xây dựng giải pháp phần mềm IoT ứng dụng cụ thể cho từng mô hình sản xuất nông nghiệp.
Một số giải pháp đang được IOCV cung cấp cho các hộ sản xuất là: trang trại thông minh, cổng kết nối tự động hóa, thiết bị quản lý nông nghiệp chính xác… Các giải pháp này đều có thể ứng dụng trên quy mô nhỏ với số vốn ban đầu chỉ từ 20-200 triệu đồng.
Ông Nguyễn Hồng Quang, Chủ tịch CLB Phần mềm tự do nguồn mở Việt Nam (VFOSSA) cho hay, có những nơi được thử nghiệm thì chỉ cần diện tích khoảng 600 m2. “Cái chúng tôi mong muốn là đưa được các giải pháp phù hợp với quy mô hộ nông dân, chỉ cần diện tích vài nghìn m2là có thể triển khai được, với giá cả mà người nông dân có thể chấp nhận và đầu tư được”.
Theo các chuyên gia, trong bối cảnh Việt Nam đang chuyển đổi sang kinh tế số và hội nhập với cách mạng công nghiệp 4.0 thì việc ứng dụng IoT là rất quan trọng, đặc biệt trong lĩnh vực thế mạnh của Việt nam là nông nghiệp. Việt Nam nên học hỏi các mô hình IoT tại Mỹ, Isreal để tiếp tục phát triển các sản phẩm công nghệ tiên tiến hơn.
Theo ông Đào Văn Chiến, Phó Vụ trưởng Vụ Công nghệ cao, Bộ Khoa học và Công nghệ, thời gian vừa qua cơ bản đã có những kết quả đáng ghi nhận, tuy nhiên, việc triển khai ứng dụng IoT trong nông nghiệp công nghệ cao thời gian tới cần có những phát triển hơn nữa, đặc biệt đưa vào sản xuất những thiết bị, máy móc thông minh hơn, tự động hóa cao hơn, giúp cho người dân có thể có sản phẩm mới chất lượng hơn.
Mặc dù mang lại hiệu quả kinh tế cao, nhưng thực tế hiện nay các giải pháp của IOCV chưa được ứng dụng rộng rãi mà mới đang được sử dụng trên diện tích khoảng 70.000 m2.
Theo Bộ Khoa học và Công nghệ, để nâng cao diện tích ứng dụng, cần tăng cường liên kết giữa nhà cung cấp công nghệ với các hộ nông dân. Bộ Khoa học và Công nghệ cũng sẽ phối hợp chặt chẽ với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đẩy mạnh hơn nữa ứng dụng IoT trong nông nghiệp…

Hiện nay, hằng năm các Trung tâm ứng dụng tiến bộ KH&CN được thành lập trực thuộc các Sở KH&CN thực hiện hàng nghìn hợp đồng dịch vụ tư vấn cho doanh nghiệp và người dân, mang lại tổng giá trị nhiều chục tỷ đồng.

Thống kê của Cục Ứng dụng và Phát triển công nghệ - Bộ KH&CN cho thấy, thời gian qua các trung tâm đã thực hiện nhiều hợp đồng dịch vụ tư vấn hiệu quả cho doanh nghiệp và người dân.
Cụ thể hằng năm có tới khoảng 3000 hợp đồng/ nămhợp đồng tư vấn, chuyển giao công nghệ được thực hiện, tăng trưởng trung bình khoảng 15%/năm; giá trị hợp đồng tư vấn, chuyển giao công nghệ khoảng 80 tỷ đồng/năm, tăng trưởng trung bình 10-15%/năm.
Một số kết quả ứng dụng, chuyển giao công nghệ điển hình như: Công nghệ nuôi cấy mô tế bào; Công nghệ vi sinh trong sản xuất chế phẩm sinh học, sản xuất giống nấm ăn, nấm dược liệu; công nghệ trồng rau bằng hệ thống thuỷ canh, công nghệ sản xuất chế phẩm sinh học phục vụ ngành thuỷ sản; công nghệ vật liệu mới sản xuất composite làm vỏ tàu, vật chứa; công nghệ xử lý nước sinh hoạt, nước uống; bảo tồn, khai thác và phát triển nguồn gene, phát triển tài sản trí tuệ…
Đây là kết quả bước đầu đáng ghi nhận, tuy nhiên, theo ý kiến các nhà quản lý và chuyên gia, chúng vẫn còn khá khiêm tốn nếu so với kỳ vọng cùng những nỗ lực đầu tư của Nhà nước trong những năm gần đây.
Chưa rõ đâu là mô hình phù hợp
Từ nhiều năm nay, các trung tâm ứng dụng tiến bộ KH&CN trực thuộc các Sở KH&CN gặp nhiều khó khăn do trụ sở tạm bợ, không có nhà xưởng, trạm, trại thực nghiệm, thiết bị lạc hậu, nhân lực phục vụ công tác nghiên cứu KH&CN còn thiếu và yếu...
980khu cnc thanh hoa 021231
Trung tâm nuôi cấy mô của Khu Nông nghiệp công nghệ cao Thanh Hóa. Ảnh: PN

Để giải quyết những khó khăn này, Đề án 317 (theo Quyết định 317/QĐ-TTg ngày 15/3/2012 của Thủ tướng Chính phủ) ra đời, theo đó đến nay đã có 52/63 trung tâm thực hiện và được phê duyệt các dự án đầu tư xây dựng trụ sở mới, nhà xưởng trại thực nghiệm, phòng thí nghiệm, tăng cường trang thiết bị kỹ thuật…với tổng kinh phí là 3.543 tỷ đồng, TS Tạ Việt Dũng – Cục trưởng Cục Ứng dụng và Phát triển công nghệ cho biết.

Với quy mô hàng nghìn tỷ đồng Nhà nước đã bỏ ra, cơ sở hạ tầng, trang thiết bị của các trung tâm ứng dụng tiến bộ KH&CN bước đầu đã được đầu tư bài bản. Nhưng trong cách tổ chức và hoạt động, trên thực tế các nhà quản lý vẫn chưa xác định rõ đâu là mô hình phù hợp và hiệu quả nhất.

Theo ông Trần Quốc Thành – Giám đốc Sở KH&CN tỉnh Nghệ An, hiện mô hình hoạt động của các trung tâm vẫn chưa có sự thống nhất. Mặc dù theo Thông tư liên tịch số 29/2014/TTLT-BKHCN-BNV hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của cơ quan chuyên môn về KH&CN thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện đã quy định, trung tâm là nơi đánh giá, tìm kiếm nhu cầu công nghệ của các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế xã hội cũng như người dân, trên cơ sở đó kết nối các viện trường, ứng dụng thử nghiệm và chuyển giao.

“Tuy nhiên khi quy định tại văn bản hướng dẫn thì chưa được cụ thể nên mỗi trung tâm trên toàn quốc có một mô hình, cách làm không giống nhau, mỗi nơi có một kiểu triển khai” – ông Thành nói. Trong thời gian tới, ông cho rằng Bộ KH&CN cần xác định một số mô hình đã chứng minh được tính hiệu quả, rút ra những đặc điểm chung và cả những nét riêng phù hợp với đặc thù các địa phương, từ đó có hướng dẫn cụ thể hơn để các trung tâm có mô hình hoạt động một cách bài bản và có tính hệ thống.

Cần những sản phẩm ứng dụng cụ thể và hấp dẫn

Mặc dù chưa xác định rõ đâu là mô hình hiệu quả nhất nhưng kỳ vọng Nhà nước dành cho các trung tâm ứng dụng tiến bộ KH&CN là rất lớn, phản ánh qua yêu cầu tất cả các trung tâm này phải sớm thực hiện chuyển đổi sang tự chủ, tự chịu trách nhiệm.

Để làm được điều này, theo ông Thành, không có cách nào khác là các trung tâm phải có những sản phẩm KH&CN cụ thể và chứng minh được giá trị tiềm năng của chúng để hấp dẫn sự quan tâm của doanh nghiệp.

Muốn vậy, các trung tâm cần hướng đến các sản phẩm KH&CN đã phát triển chín muồi, sẵn sàng đưa vào thương mại hóa. Kinh nghiệm của Nghệ An là ngoài đề tài dự án trung tâm phối hợp với các viện, trường để triển khai, hằng năm, Sở KH&CN tỉnh Nghệ An chủ động tham gia tìm kiếm và giao cho Trung tâm nhiệm vụ, công nghệ có thể ứng dụng ngay mà không cần thông qua đề tài dự án nghiên cứu từ đầu để giảm thiểu kinh phí quản lý.

Ví dụ khi thấy Viện Chăn nuôi nghiên cứu thành công giống lợn mới, Nghệ An đã chỉ đạo Trung tâm nhập về địa phương, triển khai mô hình nuôi thay vì nghiên cứu, khảo sát. Kinh phí thực hiện được giao thông qua nhiệm vụ thường xuyên từ ngân sách sự nghiệp khoa học. “Cách này đã triển khai 2-3 năm nay cho thấy hiệu quả rõ rệt” – ông Thành nói.

Bên cạnh đó, một kinh nghiệm hữu ích khác là các trung tâm cần chủ động lựa chọn các sản phẩm KH&CN là thế mạnh của địa phương mình để tạo ra sự khác biệt với sản phẩm từ địa phương khác. Dẫn thực tế từ Trung tâm ứng dụng tiến bộ KH&CN Nghệ An thời gian qua, ông Thành cho biết trung tâm này đã có nhiều sản phẩm KH&CN nổi bật được ứng dụng tốt như: chế phẩm vi sinh vật phân hủy tồn dư thuốc bảo vệ thực vật trong đất trồng rau Biogreen, chế phẩm compost maker sản xuất phân vi sinh từ phế phụ phẩm nông nghiệp, các sản phẩm thuốc trừ sâu sinh học…

Đặc biệt các trung tâm này cũng là đơn vị chủ yếu triển khai chương trình bảo tồn khai thác phát triển quỹ gene, bằng cách chủ động phân tích chọn cây nào là cây quý, có giá trị kinh tế hấp dẫn, từ đó kêu gọi các đề tài dự án.

“Với vùng miền núi kêu gọi doanh nghiệp đầu tư sẽ khó cạnh tranh với đồng bằng, do đó phải thông qua quỹ gene này mới tìm thấy sự khác biệt. Minh chứng là Nghệ An đã kêu gọi được doanh nghiệp đầu tư cho cây hà thủ ô đỏ, cây sâm Phuxailaileng, đẳng sâm, cây gấc và đang chuẩn bị đầu tư cho cây trà hoa vàng” – ông Thành nói và cho biết Nghê An coi đây là nhiệm vụ thường xuyên để các trung tâm có thể tự chủ được.

Chính nhờ có những sản phẩm cụ thể và cách tiếp cận thiết thực như vậy mà Trung tâm ứng dụng tiến bộ KH&CN Nghệ An trở thành một trong những đơn vị đầu tiên của cả nước chuyển đổi thành công hoạt động sang cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm.

Tập trung thay vì rải rác

Cho rằng để tồn tại và phát triển thì bản thân các đơn vị phải tích cực, chủ động, sáng tạo, tự chủ mạnh mẽ hơn nữa và có sản phẩm cho xã hội và thị trường, song bà Nguyễn Thị Tố Uyên – Giám đốc Trung tâm Ứng dụng tiến bộ KH&CN Cần Thơ cũng kiến nghị Bộ KH&CN cần có những cơ chế hỗ trợ và giao các trung tâm thực hiện nhiệm vụ thuộc các Chương trình KH&CN cấp quốc gia, tiếp cận với các nguồn vốn hỗ trợ từ các Quỹ Đổi mới công nghệ Quốc gia, Quỹ Phát triển KH&CN Quốc gia…

“Lựa chọn và giao kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước cho trung tâm có nhu cầu và đủ điều kiện tiếp nhận kết quả nghiên cứu này vào hoạt động ứng dụng, chuyển giao công nghệ ở địa phương. Hỗ trợ các trung tâm hoàn thiện kết quả nghên cứu trước khi nhân rộng và chuyển giao công nghệ” – bà Uyên kiến nghị và cho rằng Bộ KH&CN cũng cần có chính sách khuyến khích, hỗ trợ, đặt hàng liên quan đến hoạt động giải mã công nghệ. Đây là một trong những giải pháp giúp các trung tâm nhanh chóng tiếp cận được với trình độ KH&CN của thế giới tạo nên những bước phát triển đột phá cho các ngành kinh tế - kỹ thuật.

Chung quan điểm này, ông Tạ Việt Dũng nhận định rằng trên thực tế từ Đề án 317 – các trung tâm đã được đầu tư trang thiết bị, cơ sở vật chất hạ tầng tốt, có phòng thí nghiệm, trại thực nghiệm… đủ năng lực để thực hiện các nhiệm vụ lớn, “vì thế cần được giao nhiệm vụ tập trung hơn thay vì các đề tài tản mát, nhỏ lẻ chia nhỏ ra nhiều sở, ngành như trước đây để khai thác hiệu quả kinh phí đã đầu tư”.

Nguồn http://khoahocphattrien.vn

 

UDCGTBKHCNCác Trung tâm ứng dụng và chuyển giao tiến bộ khoa học và công nghệ (KH&CN) tại các địa phương được thành lập với mục đích làm cầu nối, đẩy nhanh các tiến bộ KH&CN vào sản xuất. Nhưng trên thực tế, nhiều năm qua hoạt động của các đơn vị nêu trên chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội các địa phương.

Theo báo cáo của Cục Ứng dụng và Phát triển công nghệ (Bộ KH&CN), hiện, cả nước có 63 Trung tâm ứng dụng và chuyển giao tiến bộ KH&CN với hơn 1.300 người. Trong hai năm 2015 và 2016, các trung tâm này chỉ thực hiện được 56 đề tài, 91 dự án với khoảng 3.300 hợp đồng dịch vụ, tư vấn và chuyển giao công nghệ, làm chủ được 197 công nghệ.
Tiến sĩ Hồ Ngọc Luật, nguyên Vụ trưởng KH&CN địa phương (Bộ KH&CN) cho rằng, nguyên nhân một số trung tâm hoạt động không hiệu quả là do chưa thực hiện được vai trò kết nối giữa những nhà nghiên cứu với khối sản xuất, kinh doanh và người dân. Phần lớn các trung tâm chưa được đầu tư đồng bộ, đầy đủ để thực hiện các yêu cầu, nhiệm vụ được giao. Trụ sở nhiều trung tâm vẫn là nhà cấp bốn, thậm chí phải thuê chỗ làm việc, không có nhà xưởng, trạm, trại thực nghiệm, thiết bị lạc hậu. Nhân lực KH&CN còn thiếu và yếu, thiếu chuyên môn về công nghệ, chuyển giao công nghệ. Như tại Trung tâm Thông tin và Chuyển giao công nghệ mới của tỉnh Hà Giang, mặc dù đã hoạt động được gần 20 năm, nhưng vẫn chưa có trụ sở riêng, chưa đủ trang thiết bị đúng theo chức năng, mô hình hoạt động.
Một trong những khó khăn của các trung tâm ứng dụng và chuyển giao công nghệ là nhu cầu về chuyển giao công nghệ còn ít, do người dân và doanh nghiệp chưa quan tâm việc mua công nghệ về sử dụng bởi chưa thấy được hiệu quả. Mặt khác, khi trung tâm được tiếp nhận công nghệ và giao cho người dân hoặc một tổ chức, nhưng các cá nhân và đơn vị đó lại không có nhiệm vụ phải nhân rộng mô hình, công nghệ, cho nên hiệu quả đầu tư, nghiên cứu còn hạn chế. Các trung tâm còn gặp nhiều khó khăn về nguồn đầu tư tài chính, luôn trong tình trạng không ổn định và thiếu các chính sách đãi ngộ, khuyến khích các cán bộ có trình độ về công tác. Như tại Trung tâm Ứng dụng tiến bộ KH&CN của Vĩnh Phúc, sau 14 năm hoạt động, nhân lực mới chỉ có năm người, trong đó bao gồm một giám đốc, một phó giám đốc, một kế toán và hai cán bộ khoa học. Thiếu đội ngũ thực hiện chuyển giao trong các lĩnh vực, chuyên môn chưa đồng đều, sản phẩm khoa học có lợi nhuận thấp và đầu ra cho sản phẩm chưa ổn định, dẫn đến việc hình thành chuỗi giá trị sản phẩm gặp nhiều khó khăn.
Nhằm giải quyết những vướng mắc dẫn tới hoạt động thiếu hiệu quả của các đơn vị KH&CN công lập, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 115/2005/NÐ-CP ngày 5/9/2005 và thay thế bằng Nghị định số 54/2016/NÐ-CP ngày 14/6/2016 quy định cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức KH&CN công lập. Tính đến nay trên cả nước đã có 40 trong số 63 trung tâm nhận Quyết định của UBND tỉnh phê duyệt đề án chuyển đổi và 23 trung tâm đã chuyển đổi sang mô hình tự chủ của tổ chức KH&CN công lập. Nhưng ở mỗi địa phương, việc chuyển đổi các trung tâm sang hoạt động theo cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm lại có sự khác nhau, dẫn đến việc thiếu thống nhất từ T.Ư đến địa phương. Giám đốc Trung tâm Ứng dụng tiến bộ khoa học tỉnh Hải Dương Nguyễn Cao Ðam cho biết, đơn vị đã hoạt động được gần 20 năm, nhưng chỉ cầm chừng. Ðến năm 2007 khi chuyển đổi sang cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm, trung tâm đã tự đứng vững bằng chính hoạt động nghiên cứu và chuyển giao của mình.
Ðể tăng hiệu quả hoạt động các trung tâm ứng dụng và chuyển giao tiến bộ KH&CN ở các địa phương, bên cạnh việc phải tự chủ, chủ động trong các hoạt động thì cần có sự hỗ trợ từ phía Nhà nước và các cơ quan liên quan; Bộ KH&CN có thể bố trí một phần kinh phí từ việc chuyển giao và ứng dụng công nghệ cho trung tâm tiếp tục nhân rộng đề tài; các trung tâm tiếp tục được giao những đề tài KH&CN nhằm phục vụ công tác ứng dụng chuyển giao trên địa bàn tỉnh; ban hành đồng bộ các cơ chế, chính sách liên quan đến các tổ chức KH&CN công lập; sự quan tâm của cấp ủy chính quyền các cấp cũng như sự nỗ lực tự thân của mỗi nhà khoa học, nhờ đó các trung tâm Ứng dụng và Chuyển giao tiến bộ KH&CN sẽ phát huy vai trò, vị trí của mình, có những đóng góp tích cực hơn cho sự phát triển khoa học và công nghệ, kinh tế - xã hội ở các địa phương.

UDKHCN vao chan nuoi tttTheo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN và PTNT), với sự góp sức của các cơ quan liên quan, hiệp hội, doanh nghiệp…, nhất là Viện Chăn nuôi, thời gian qua nhiều tiến bộ kỹ thuật được áp dụng vào thực tiễn sản xuất, góp phần thúc đẩy ngành chăn nuôi phát triển.


Viện Chăn nuôi cho biết, giai đoạn 2015-2017, Viện đã, đang thực hiện 228 nghiên cứu khoa học và phần lớn đã được ứng dụng và chuyển giao vào thực tiễn sản xuất tại các vùng sinh thái trên cả nước. Trong đó có 10 tiến bộ kỹ thuật được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn công nhận và ứng dụng vào thực tế sản xuất với quy mô lớn, mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người chăn nuôi như: Chọn tạo được 14 dòng giống lợn, hơn 30 dòng giống gà, 30 dòng giống vịt ngan, bốn giống đà điểu, 10 giống trâu bò, một dòng cừu lai, một giống thỏ, bốn dòng ong mật, sáu giống cỏ... Chuyển giao vào sản xuất 18.674 lợn giống ông bà, bố mẹ, 33,285 triệu con gà giống ông bà và bố mẹ các loại, 5,68 triệu con vịt giống, 1,86 triệu con ngan giống, hơn 12 triệu quả trứng giống các loại, hơn hai tấn giống hạt cỏ, 28,87 nghìn tấn hom cỏ giống. Các giống gà nội và gà lai lông mầu của Viện chiếm khoảng 30 đến 35% thị phần; tinh bò đông lạnh chiếm hơn 60%, tinh trâu và tinh dê chiếm hơn 95% thị phần cả nước. Chọn lọc và cải tiến năng suất đàn lợn giống Landrace, Yorkshire, Duroc, Pietrain, VCN01, VCN02 nhập từ các nước: Pháp, Mỹ, Đan Mạch, Ca-na-đa và nguồn gốc PIC có tiềm năng sản xuất cao để tạo ra các dòng lợn ông bà và bố mẹ cung cấp cho sản xuất trên toàn quốc. Hai dòng gà ri cải tiến R1, R2 có chất lượng thịt thơm ngon, năng suất trứng và thịt cao hơn gà ri truyền thống từ 30 đến 35%, đã chiếm lĩnh hầu hết thị trường các tỉnh phía bắc và Trung Bộ.

Ngoài ra, Viện đã bảo tồn được 44 giống vật nuôi có nguy cơ tuyệt chủng và đưa vào nghiên cứu khai thác và phát triển được 43 nguồn gien động vật bản địa Việt Nam. Đồng thời, xác định được một số giải pháp xử lý chất thải trong chăn nuôi lợn trang trại, hoàn thiện, chuyển giao được hơn 40 quy trình kỹ thuật, thực hiện hơn 120 mô hình trình diễn về chăn nuôi lợn, bò thịt, gà, trâu, bò sữa…

Theo Tiến sĩ, Viện trưởng Chăn nuôi Nguyễn Thanh Sơn, kết quả trên là nhờ công sức, sự sáng tạo, nỗ lực nghiên cứu khoa học của hơn 1.100 cán bộ, công nhân viên toàn khối trong Viện. Tuy nhiên, do cơ sở vật chất chưa đầy đủ, diện tích đất tại một số đơn vị hạn chế, thiếu kinh phí hoạt động, cho nên việc triển khai công tác nghiên cứu, sản xuất, dịch vụ còn gặp nhiều khó khăn. Mặt khác, đội ngũ cán bộ khoa học tại một số đơn vị "mỏng", không có nhiều kinh nghiệm tổ chức thị trường, cho nên việc chuyển giao kết quả nghiên cứu, dịch vụ khoa học vào sản xuất còn khiêm tốn, chưa tạo được nhiều nguồn thu để trang trải các hoạt động và nâng cao đời sống cán bộ, viên chức. Chính sách ưu đãi đối với cán bộ khoa học chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể cho nên chưa triển khai thực hiện được trong thực tiễn. Một số nhà khoa học được đào tạo, có trình độ chuyên môn giỏi bị sức hút của các doanh nghiệp với mức lương cao dẫn đến chưa yên tâm công tác tại Viện.

Để đạt hiệu quả cao hơn trong nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ nghiên cứu di truyền, giống, dinh dưỡng và thức ăn vật nuôi; phát triển công nghệ chế biến, bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm các sản phẩm chăn nuôi…, thời gian tới, Bộ NN và PTNT cần tiếp tục ưu tiên đầu tư xây dựng Phân viện Chăn nuôi miền trung và Tây Nguyên. Cho phép Viện làm thí điểm chuyển đổi một số đơn vị đủ điều kiện hoạt động theo cơ chế doanh nghiệp. Bổ sung một số quy định về giao đất và cho thuê đất đối với tổ chức khoa học và công nghệ tham gia liên doanh, liên kết trong nghiên cứu và sản xuất dịch vụ…

bq sau thu hoach chuoi tieu hongNgày nay, khoa học công nghệ tiên tiến đã đưa ra hàng loạt các loại công cụ, máy móc chất lượng cao, nhằm mục đích bảo quản nông sản tốt hơn. Đây chính là giải pháp hữu hiệu để nhiều loại nông sản của nước ta rộng cửa tiến vào thị trường thế giới.


Kêu gọi cộng đồng giúp người sản xuất tiêu thụ sản phẩm là việc không còn mới với nhiều người dân nước ta trong thời gian gần đây. Tận mắt chứng kiến bắp cải, cà chua, dưa hấu bị bỏ mặc ngoài đồng, không ai thu hoạch mới thấy xót xa. Trong khi đó, người nông dân quanh năm “bán mặt cho đất, bán lưng cho trời” vẫn còn hết sức khó khăn. Được mùa, mất giá vẫn luôn là nỗi lo của người làm nông nghiệp.

Lý giải về tình trạng này không ít chuyên gia cho rằng, Việt Nam là một trong những nước dẫn đầu về xuất khẩu một số loại nông sản, nhưng tổn thất sau thu hoạch vẫn ở mức cao. Theo thống kê của Tổ chức Nông lương Liên hợp quốc (FAO), tổn thất sau thu hoạch đối với nông sản ở các nước đang phát triển lên đến 20 - 30%, nghĩa là chừng ấy tỷ lệ nông sản được sản xuất ra nhưng không đến được tay người tiêu dùng. Tại Việt Nam, tổn thất sau thu hoạch đối với cây có hạt là khoảng 10%, đối với cây có củ là 10 đến 20% và rau quả là 10 đến 30%. Nguyên nhân chủ yếu là do thu hoạch, đóng gói, vận chuyển và bảo quản không đúng cách. Do ứng dụng công nghệ sau thu hoạch yếu nên dẫn đến tình trạng khi dư thừa nông sản người sản xuất nông nghiệp không thể chuyển sang chế biến, bảo quản.

Vài năm gần đây, xuất khẩu rau quả của Việt Nam có bước phát triển khá mạnh, kim ngạch xuất khẩu tăng dần qua các năm và tăng hơn 30% trong năm 2016. Tuy vậy, có đến 65% giá trị xuất khẩu rau quả nằm ở thị trường Trung Quốc. Với vị trí địa lý khá thuận lợi, nếu vận chuyển qua đường biên giới thì chỉ cần ba đến năm ngày để giao hàng, nên các doanh nghiệp ít chú trọng đến việc đầu tư công nghệ bảo quản sau thu hoạch. Đây cũng là lý do chính khiến xuất khẩu rau quả sang các thị trường khó tính mặc dù đã có nhiều cải thiện, song vẫn còn nhiều hạn chế.

Theo Tiến sĩ Nguyễn Thanh Nghị (Trường Đại học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh), để nâng cao sức cạnh tranh của nông sản Việt, trong thời gian gần đây, vấn đề bảo quản nông sản sau thu hoạch được các nhà vườn, doanh nghiệp đặc biệt quan tâm. Một số công trình nghiên cứu bảo quản nông sản sau thu hoạch cũng đang cho những kết quả khả quan.

Mới đây, Viện Hóa học (thuộc Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam) đã nghiên cứu thành công màng bao gói biến đổi khí quyển (GreenMAP) giúp rau quả tươi lâu gấp ba lần bình thường mà không bị tác động của hóa chất. Công nghệ mới này sử dụng khá đơn giản, chi phí thấp, tỷ lệ tổn thất sau thu hoạch đã giảm xuống chỉ còn 5%; đồng thời phù hợp cho mục đích chiếu xạ theo yêu cầu của một số thị trường khó tính như Nhật Bản, Mỹ, Thụy Sĩ… Hiện, màng bao gói này đã được sử dụng ở vùng vải thiều Lục Ngạn (Bắc Giang); nho (Ninh Thuận); một số đơn vị sản xuất rau mầm, chuỗi cung ứng rau quả…

Dòng sản phẩm máy sấy nông sản cũng được nhiều đơn vị, doanh nghiệp nghiên cứu đưa vào ứng dụng rộng rãi. Đơn cử như máy sấy năng lượng mặt trời của Công ty cổ phần Công nghệ năng lượng bền vững Việt Nam; công nghệ sấy đảo chiều đa năng trong sấy nông sản của Trung tâm Năng lượng và Máy nông nghiệp (Trường đại học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh)… đang được kỳ vọng là giải pháp quan trọng cho một nền nông nghiệp xanh.

Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và Tư vấn nông nghiệp nhiệt đới TP Hồ Chí Minh - Tiến sĩ Nguyễn Đăng Nghĩa chia sẻ, việc nhiều doanh nghiệp tham gia vào thị trường sản xuất sản phẩm bảo quản nông sản là cách nhanh nhất để giảm tổn thất ở nông sản hiện nay. Bên cạnh đó, để cải thiện tình trạng áp dụng công nghệ vào khâu sau thu hoạch ở Việt Nam cần tăng cường thu hút nhân lực trẻ vào ngành nông nghiệp. Đào tạo cho họ kỹ năng vận hành công nghệ chính xác, phương pháp bảo quản nông sản ngay sau khi thu hoạch, cách thức làm lạnh, vận chuyển, nhất là cách thức bảo quản ở nơi tiêu thụ…

Tìm kiếm...

Thông báo mới

Quy định cơ chế tự chủ của tổ chức KH&CN công lập. Nghị định số 54/2016/NĐ-CP


Quyết định về việc công bố thủ tục hành chính đã chuẩn hóa thuôc phạm vi chức năng quản lý của Sở Khoa học và Công nghệ Hòa Bình


Quy định cơ chế tự chủ của tổ chức KH&CN công lập. Nghị định số 54/2016/NĐ-CP


Quyết định về việc công bố thủ tục hành chính đã chuẩn hóa thuôc phạm vi chức năng quản lý của Sở Khoa học và Công nghệ Hòa Bình


Quy định cơ chế tự chủ của tổ chức KH&CN công lập. Nghị định số 54/2016/NĐ-CP


Quyết định về việc công bố thủ tục hành chính đã chuẩn hóa thuôc phạm vi chức năng quản lý của Sở Khoa học và Công nghệ Hòa Bình


Quy định cơ chế tự chủ của tổ chức KH&CN công lập. Nghị định số 54/2016/NĐ-CP


Quyết định về việc công bố thủ tục hành chính đã chuẩn hóa thuôc phạm vi chức năng quản lý của Sở Khoa học và Công nghệ Hòa Bình


Quy định cơ chế tự chủ của tổ chức KH&CN công lập. Nghị định số 54/2016/NĐ-CP


Quyết định về việc công bố thủ tục hành chính đã chuẩn hóa thuôc phạm vi chức năng quản lý của Sở Khoa học và Công nghệ Hòa Bình


Quy định cơ chế tự chủ của tổ chức KH&CN công lập. Nghị định số 54/2016/NĐ-CP


Quyết định về việc công bố thủ tục hành chính đã chuẩn hóa thuôc phạm vi chức năng quản lý của Sở Khoa học và Công nghệ Hòa Bình


Quy định cơ chế tự chủ của tổ chức KH&CN công lập. Nghị định số 54/2016/NĐ-CP


Quyết định về việc công bố thủ tục hành chính đã chuẩn hóa thuôc phạm vi chức năng quản lý của Sở Khoa học và Công nghệ Hòa Bình


Quy định cơ chế tự chủ của tổ chức KH&CN công lập. Nghị định số 54/2016/NĐ-CP


Quyết định về việc công bố thủ tục hành chính đã chuẩn hóa thuôc phạm vi chức năng quản lý của Sở Khoa học và Công nghệ Hòa Bình



bkhcn
DCS-VN chinh-phu
tap chi KHCN Báo Khoa học & Phát triển
NASATI Varans
khoahoctot  

Thống kê truy cập

0919043
Hôm nay
Hôm qua
Tuần này
Tuần trước
Tháng này
Tháng trước
Tất cả các ngày
715
587
4030
908820
12591
23496
919043

Your IP: 192.168.51.1
2017-12-14 20:39