DO LUONG

ung dung

thong ke

DOLUONG

QUYPHAT

Khoi nghiep
 
cam cao phong

Thực hiện Quyết định số 165/2006/QĐ-TTg ngày 14/7/2006 của Thủ tướng Chính phủ về việc tổ chức Hội thi sáng tạo kỹ thuật toàn quốc và Quyết định 3072/QĐ-UBND ngày 09/11/2006 của UBND tỉnh Hòa Bình về tổ chức Hội thi sáng tạo kỹ thuật phát động trên địa bàn tỉnh 2 năm một lần và triển khai cuộc thi sáng tạo thanh thiếu niên nhi đồng toàn quốc trên địa bàn tỉnh 1 năm một lần (theo năm học). Cụ thể:

Thực hiện quyết định số 26/QĐ-UBND, ngày 10 tháng 01 năm 2017 của UBND tỉnh về việc Ban hành Kế hoạch chỉ đạo, điều hành thực hiện nhiệm vụ KTXH và dự toán ngân sách nhà nước năm 2017, ngày 18/01/2017 Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Hòa Bình ban hành Quyết định số 23/QĐ-SKHCN về việc ban hành kế hoạch nhiệm vụ công tác chủ yếu của các phòng, đơn vị năm 2017, những nhiệm vụ chủ yếu thực hiện năm 2017 của ngành bao gồm:

dau an hoat dong KHCNNăm qua, hoạt động khoa học và công nghệ (KH&CN) trong tỉnh có những điểm nhấn sắc nét. Theo đồng chí Đỗ Hải Hồ, Giám đốc Sở KH &CN, kết quả này thể hiện rõ sự quan tâm chỉ đạo kịp thời, sâu sát của UBND tỉnh trong từng nhiệm vụ.

(HBĐT) - Tỉnh ủy Hòa Bình đã ban hành Chương trình hành động số 17 ngày 31/1/2013 về việc thực hiện Nghị quyết số 20-NQ/TW đánh dấu một bước quan trọng trong việc đưa khoa học và công nghệ phục vụ mục tiêu CNH-HĐH của tỉnh. Theo đó, các cấp, các ngành đã xây dựng và triển khai thực hiện đồng bộ và có hệ thống các chương trình, kế hoạch để đổi mới hoạt động khoa học công nghệ trên các lĩnh vực: phát triển nông nghiệp, nông thôn; khai thác và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường; bảo tồn và phát triển văn hóa bản địa;

Nguyen Van Dung

Đồng chí Nguyễn Văn Dũng, Phó Chủ tịch UBND tỉnh kiểm tra cây đầu dòng “bưởi đỏ Tân Lạc”

Phát triển sự nghiệp giáo dục đào tạo và chăm sóc sức khỏe nhân dân; thực hiện chương trình bảo tồn nguồn gen quý hiếm của tỉnh Hòa Bình giai đoạn 2014-2020; ứng dụng và phát triển khoa học công nghệ; đẩy mạnh hỗ trợ phát triển tài sản trí tuệ. Với nhiều đóng góp về nghiên cứu ứng dụng các thành tựu khoa học và công nghệ vào sản xuất của tỉnh trong những năm qua, đặc biệt là sau kết quả nghiên cứu phát triển vùng sản xuất cam Cao Phong thành vùng sản xuất hàng hóa tập trung gắn với phát triển thương hiệu thành công, đánh dấu một bước quan trọng trong việc triển khai khoa học và công nghệ của tỉnh.

Giai đoạn 2014-2016, tỉnh đã triển khai thực hiện 54 đề tài, dự án cấp tỉnh, cấp bộ và cấp quốc gia trên 6 lĩnh vực (khoa học nông nghiệp 27 đề tài; khoa học tự nhiên 6 đề tài; khoa học kỹ thuật và công nghệ 4 đề tài; khoa học y dược 2 đề tài; khoa học xã hội 12 đề tài; khoa học nhân văn 3 đề tài). Các đề tài, dự án thực hiện có hiệu quả với nhiều đề tài, dự án được nghiên cứu, ứng dụng thành công góp phần thúc đẩy phát triển KT-XH, nâng cao chất lượng đời sống tinh thần, vật chất của người dân. Một số đề tài đã tạo ra bước đột phá trong phát triển KT-XH, như việc xây dựng và công bố Chỉ dẫn địa lý Cao Phong cho sản phẩm cam quả của huyện Cao Phong đã tăng giá trị quả cam lên 30-40%, giá trị gia tăng lên đến hàng trăm tỉ đồng, cam Cao Phong đã nổi tiếng khắp cả nước, nâng diện tích trồng cam từ 1.200 ha (năm 2014) lên gần 3.000 ha (năm 2016), dự kiến hơn 5.000 ha vào năm 2020. Đề tài xây dựng Bộ chữ cho người dân tộc Mường tại tỉnh đã được UBND tỉnh phê chuẩn. Đây là sự kiện quan trọng, đánh dấu bước ngoặt lịch sử dân tộc Mường Hoà Bình, là cơ sở cho việc lập hồ sơ khoa học trình UNESCO công nhận Mo Mường là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại. Đây chính là công cụ hữu hiệu nhất cho việc giữ gìn, phát huy tiếng Mường và  bản sắc văn hóa dân tộc Mường. Ngoài ra, hoạt động nghiên cứu bảo tồn, khai thác và phát triển nguồn gen đã được triển khai và đạt nhiều kết quả tốt với nhiều nguồn gen được thực hiện như dổi ăn hạt tại huyện Lạc Sơn; quýt Nam Sơn Tân Lạc; lúa nếp cẩm Kim Bôi... 

Bên cạnh các hoạt động nghiên cứu ứng dụng Khoa học và Công nghệ, hoạt động quản lý nhà nước về Khoa học và Công nghệ cũng được chú trọng thực hiện hiệu quả. Trong lĩnh vực quản lý nhà nước về Sở hữu trí tuệ, tỉnh Hòa Bình đã tập trung hỗ trợ phát triển tài sản trí tuệ là sản phẩm nông sản, đặc sản gắn với các địa danh của tỉnh. Đến nay đã có 1 Chỉ dẫn địa lý Cao Phong cho sản phẩm cam và 7 nhãn hiệu tập thể được bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ; gần 200 giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu, kiểu dáng công nghiệp và bằng sáng chế bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đã được Cục Sở hữu trí tuệ cấp cho các sản phẩm, dịch vụ trên địa bàn tỉnh.

Hoạt động quản lý công nghệ, phát triển thị trường và doanh nghiệp khoa học và công nghệ trong giai đoạn 2014-2016 đã đạt nhiều kết quả với 4 dự án đầu tư được thẩm định, 5 doanh nghiệp khoa học và công nghệ được ươm tạo và hình thành; đã hỗ trợ các doanh nghiệp tham gia chợ công nghệ và thiết bị, sự kiện cung cầu công nghệ tổ chức trên cả nước,…

Hoạt động thông tin, truyền thông khoa học và công nghệ tới các huyện, xã và người dân được thực hiện kịp thời, nhanh chóng góp phần năng cao nhận thức về vai trò, vị trí của khoa học và công nghệ trong cộng đồng.

Hoạt động tiêu chuẩn đo lường chất lượng cũng triển khai việc xây dựng, áp dụng, duy trì và cải tiến hệ thống quản lý chất lượng theo Tiêu chuẩn quốc gia TCVN ISO 9001:2008 tại 46/47 các sở, ban, ngành, UBND các huyện và thành phố và 15 UBND xã, phường, thị trấn.

Đã thực hiện 14 cuộc thanh tra về lĩnh vực tiêu chuẩn đo lường chất lượng, nhãn hàng hóa, mã số mã vạch, sở hữu công nghiệp, an toàn bức xạ với tổng số 323 lượt cơ sở được thanh tra.

Bên cạnh các kết quả đạt được, hoạt động nghiên cứu khoa học và ứng dụng công nghệ trong thời gian qua cũng còn một số khó khăn hạn chế như:

Công tác tham mưu, đề xuất các chính sách của các cấp, ngành còn chưa đầy đủ, kịp thời, chưa đổi mới kịp với yêu cầu thực tế. Một số nhiệm vụ khoa học - công nghệ có hàm lượng khoa học chưa cao, chưa thực sự sát với các nhiệm vụ phát triển KT-XH của tỉnh, còn hiện tượng trùng với chức năng nhiệm vụ thường xuyên của ngành; ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất nông nghiệp chưa đáp ứng được yêu cầu thực tế; hoạt động đầu tư, nghiên cứu khoa học và đổi mới công nghệ trong các doanh nghiệp còn nhiều hạn chế; số tổ chức, doanh nghiệp khoa học và công nghệ còn ít, hiệu quả hoạt động chưa cao; nguồn nhân lực khoa học và công nghệ của tỉnh còn thiếu và không đồng đều; việc chuyển đổi các đơn vị sự nghiệp công lập sang thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức khoa học và công nghệ công lập còn chậm và gặp nhiều khó khăn, bất cập; Kinh phí đầu tư cho hoạt động khoa học và công nghệ còn hạn chế, tỷ lệ chi cho khoa học và công nghệ còn thấp.

Để phát huy những kết quả đã đạt được, khắc phục khó khăn, vướng mắc còn tồn tại, cũng như tiếp tục đẩy mạnh hoạt động Khoa học và Công nghệ của địa phương, hoạt động Khoa học và Công nghệ giai đoạn tới cần tập trung triển khai thực hiện những giải pháp sau đây:

Tiếp tục đổi mới cơ bản, toàn diện và đồng bộ tổ chức, cơ chế quản lý, cơ chế hoạt động khoa học và công nghệ; tăng cường tiềm lực khoa học và công nghệ; đẩy mạnh nghiên cứu ứng dụng, gắn nhiệm vụ phát triển khoa học và công nghệ với nhiệm vụ phát triển KT-XH của địa phương.

Tăng mức đầu tư và ưu tiên đầu tư cho các nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh, các sản phẩm chủ lực của tỉnh. Đẩy mạnh xã hội hóa, huy động mọi nguồn lực, đặc biệt là của các doanh nghiệp cho đầu tư phát triển khoa học và công nghệ. Hỗ trợ các doanh nghiệp đầu tư đổi mới công nghệ.

Phát triển thị trường khoa học và công nghệ gắn với thực thi pháp luật về sở hữu trí tuệ nhằm thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu ứng dụng và phát triển công nghệ, khuyến khích sáng tạo. Hình thành hệ thống doanh nghiệp khoa học và công nghệ. Phát triển các mạng lưới các tổ chức dịch vụ khoa học và công nghệ, dịch vụ chuyển giao công nghệ, đẩy mạnh kết nối cung - cầu công nghệ. Phát triển hệ thống cơ sở dữ liệu về KH&CN song song với phát triển toàn diện công tác thông tin thống kê khoa học và công nghệ.

Hội nhập quốc tế về khoa học và công nghệ là mục tiêu, đồng thời là giải pháp quan trọng nhằm nâng cao khả năng tiếp thu, làm chủ công nghệ tiên tiến, sáng tạo ra sản phẩm, dịch vụ, công nghệ mới, góp phần vào việc phát triển tiềm lực KH&CN, nâng cao năng suất, chất lượng và giá trị gia tăng cao.

Năm 2016, tỉnh ta vinh dự là đơn vị được trao quyền đăng cai tổ chức hội nghị giao ban khoa học và công nghệ các tỉnh trung du và miền núi phía Bắc lần thứ XVI. Đây là dịp thuận lợi để tỉnh được tiếp thu những kinh nghiệm và giải pháp trong tổ chức thực hiện các hoạt động khoa học công nghệ của các địa phương trong Vùng. Qua đó tiếp tục đổi mới, từng bước nâng cao công tác quản lý hoạt động khoa học và công nghệ trong xu thế hội nhập hiện nay, để thực hiện hiệu quả các mục tiêu phát triển KT-XH của tỉnh Hòa Bình trong thời gian tới.

Nguồn http://www.baohoabinh.com.vn/

10
Ông Nguyễn Kim Sơn giám đốc Đại học Quốc gia
Hà Nội phát biểu khai mạc Hội thảo

Chiều 3/11/2016, trong khuôn khổ giao ban Khoa học và công nghệ vùng miền núi phía Bắc lần thứ 16 tại Hòa Bình, Bộ Khoa học và Công nghệ đã phối hợp cùng ĐHQGHN, Ban chỉ đạo Tây Bắc và UBND tỉnh Hòa Bình tổ chức Hội thảo "Khoa học và công nghệ thúc đẩy liên kết và phát triển vùng Tây Bắc".

Tham dự hội thảo có các đồng chí Bùi Văn Tỉnh, Uỷ viên BCH T.Ư Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Hòa Bình; đồng chí Nguyễn Văn Dũng, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Hòa Bình; đồng chí Trần Văn Tùng - Thứ trưởng Bộ KH&CN; đồng chí Nguyễn Kim Sơn Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội; đồng chí Nguyễn Cảnh Việt - Phó trưởng ban chỉ đạo Tây Bắc; đồng chí Nguyễn Minh Tiến Phó Chủ tịch UBND tỉnh Hà Giang; đồng chí Bùi Minh Sơn Phó Chủ tịch HĐND tỉnh Sơn La; đồng chí Giàng Páo MỷPhó Bí thư Thường trực - Chủ tịch HĐND tỉnh Lai Châu cùng nhiều đại biểu đến từ Bộ KH&CN, UBND các tỉnh, các Sở KH&CN trong vùng. Hội thảo được tổ chức với mục tiêu trao đổi, thảo luận nhằm thúc đẩy liên kết vùng, ứng dụng khoa học thúc đẩy kinh tế - xã hội vùng Tây Bắc.

Trong bài phát biểu chào mừng hội thảo đồng chí Bùi Văn Tỉnh Bí thư tỉnh Hòa Bình nêu rõ:Liên kết vùng và ứng dụng khoa học công nghệ là những vấn đề có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với các địa phương thuộc vùng Tây Bắc. Thế mạnh của các tỉnh Tây Bắc gắn liền với lĩnh vực nông nghiệp, văn hóa và du lịch,... Để tạo nên các giá trị gia tăng và khai thác bền vững những thế mạnh này chỉ có thể là áp dụng các tiến bộ của khoa học và công nghệ.

Tại hội thảo, Giám đốc ĐHQGHN Nguyễn Kim Sơn cho biết, với vai trò là cơ quan chủ trì chương trình khoa học và công nghệ cấp nhà nước Phát triển bền vững vùng Tây Bắc cùng với trách nhiệm xã hội cao, ĐHQGHN đã phát huy thế mạnh nghiên cứu liên ngành, huy động hiệu quả các nguồn lực bên trong và bên ngoài, đặc biệt là các nhà khoa học trình độ cao để tập trung triển khai Chương trình Tây Bắc đạt kết quả tốt nhất, đúng với kì vọng của Đảng, Nhà nước và nguyện vọng của đồng bào Tây Bắc. Sau hơn 3 năm triển khai, từ các nghiên cứu điều tra tổng thể các lĩnh vực, rà soát đánh giá chính sách, nghiên cứu hiện trạng và đề xuất giải pháp trong các lĩnh vực văn hóa, kinh tế, xã hội của các tỉnh trong vùng Tây Bắc, chương trình Tây Bắc đã xây dựng được bộ cơ sở dữ liệu bên cạnh những đề xuất chính sách phục vụ phát triển và tư vấn trong xây dựng chiến lược và qui hoạch và trọng tâm phát triển của các địa phương vùng Tây Bắc; đề xuất phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của vùng. Các sản phẩm nghiên cứu khoa học bước đầu được lãnh đạo Bộ Khoa học và Công nghệ, Ban chỉ đạo Tây Bắc và các Bộ, ngành, cơ quan trung ương và đặc biệt các địa phương đánh giá cao. Một số nghiên cứu được ứng dụng, chuyển giao trong thực tiễn; một số khác thì tiếp tục được các nhà khoa học thực hiện theo đặt hàng của các địa phương. Đồng thời ông nhấn mạnh: việc liên kết và phát triển vùng, liên kết giữa các địa phương đang đặt ra những nhu cầu bức thiết mà khoa học và công nghệ là chìa khóa giải quyết.

 

20

Toàn cảnh Hội thảo Khoa học và Công nghệ thúc đẩy liên kết và phát triển vùng Tây Bắc.

Theo Thứ trưởng Trần Văn Tùng, nội dung các sản phẩm của Chương trình Khoa học công nghệ Phát triển bền vững Tây Bắc sẽ đóng góp thiết thực cho các mục tiêu phát triển, phát triển bền vững kinh tế - xã hội và quốc phòng an ninh của từng địa phương vùng Tây Bắc.

Trong báo cáođề dẫn hội thảo, GS.TS Mai Trọng Nhuận - Phó Chủ nhiệm Chương trình Tây Bắc đã nêu lên những thuận lợi, khó khăn, mô hình liên kết vùng và ngành của vùng Tây Bắc.

Tại hội thảo, PGS.TS Bùi Tất Thắng - Viện chiến lược phát triển, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã trình bày báo cáo tham luận "Liên kết để phát triển bền vững vùng Tây Bắc"; báo cáo "Liên kết vùng phát huy lợi thế so sánh trong sản xuất nông nghiệp bền vững ở một số tỉnh Tây Bắc" của PGS.TSKH Nguyễn Xuân Hải - Trường Đại học Khoa học và Tự nhiên, ĐHQGHN; báo cáo "Liên kết vùng trong quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường, phòng tránh thiên tai và ứng phó với biến đổi khí hậu" của PGS.TS. Nguyễn Thế Chinh và cộng sự - Viện Chiến lược Chính sách Tài nguyên và Môi trường, Bộ Tài nguyên và Môi trường, đã gợi mở nhiều hướng mới trong vấn đề liên kết phát triển kinh tế - xã hội vùng Tây Bắc.

Trong phần thảo luận, TS. Vũ Văn Tích - Trưởng ban KH&CN Đại học Quốc gia Hà Nội cho rằng: "Đối với vùng miền núi phía Bắc thì việc liên kết là rất rộng vì vậy cần phải xác định được một vài đối tượng để liên kết, một vài nội dung liên kết cụ thể. Tập trung bàn đến cách thực hiện và việc đầu tiên chúng ta cần triển khai là phải có cơ sở dữ liệu về các vùng Tây Bắc, xác định thế mạnh và nhu cầu cần cho việc liên kết". Nhiều ý kiến tại hội nghị cũng đồng ý với quan điểm nên lựa chọn đối tượng liên kết và nội dung liên kết cụ thể, thiết thực và hiệu quả.

Chủ tịch Hội đồng Khoa học và Đào tạo ĐHQGHN GS.TSKH Vũ Minh Giang nhấn mạnh, khó có giải pháp nào để triển khai việc liên kết giữa các địa phương mà mọi bên đều thấy thỏa đáng. Chúng ta nên xuất phát từ những vấn đề cụ thể của các địa phương để đặt ra những mục tiêu liên kết trong vùng. Xác định việc liên kết giữa 3 nhà bao gồm nhà quản lí, nhà khoa học và nhà doanh nghiệp phải gắn chặt với liên kết 3 nguồn lực của địa phương gồm nhân lực, tài chính và tài nguyên (cả vật thể và phi vật thể).

"Liên kết vùng là phải có sản phẩm đặc trưng của vùng" - Bà Nguyễn Thị Thúy Phương đến từ Công ty Cổ phần Du lịch Hòa Bình cho rằng cần có những sản phẩm chung đặc trưng cho cả và vùng và để làm được điều này cần phải có cơ chế thực hiện dành cho các cơ quan chuyên môn, các hiệp hội ngành nghề thì việc triển khai sẽ hiệu quả hơn.

Các đạo biểu đã nghe và nêu nhiều ý kiến nhằm tiếp tục thảo luận, đề xuất các giải pháp nhằm thúc đẩy chuyển giao, ứng dụng và nhân rộng các kết quả khoa học công nghệ phục vụ đời sống sản xuất của người dân trong vùng Tây Bắc cũng như sự liên kết vùng để hỗ trợ trong việc đưa các sản phẩm đặc trưng của vùng phát triển mạnh hơn nữa, góp phần vào phát triển kinh tế - xã hội địa phương.

Trong khuôn khổ hội thảo, Giám đốc ĐHQGHN Nguyễn Kim Sơn, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Hòa Bình Nguyễn Văn Dũng và Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Du lịch Hòa Bình Vũ Duy Bổng đã kí kết văn bản hợp tác giữa 3 bên, với các nội dung hợp tác chủ yếu: đào tạo, bồi dưỡng, phát triển, cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao, đặc biệt là trong các lĩnh vực nông nghiệp; du lịch và bảo vệ môi trường sinh thái; nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ; ứng dụng vào sản xuất để thực hiện thành công nhiệm vụ chính trị của mỗi bên.

Các đại biểu đến dự hội thảo được tham quan các gian hàng trưng bày sản phẩm của các tỉnh và đi thăm một số nơi như: vùng ứng dụng công nghệ canh tác cam Cao Phong đã được xây dựng chỉ dẫn địa lý và một số sản phẩm KHCN tiêu biểu tại Trung tâm Ứng dụng tiến bộ KH&CN Hòa Bình./.

Một số hình ảnh tại Hội thảo:

30 40
Các đại biểu tham quan mô hình nấm Linh chi đỏ sản
xuất tại Trung tâm Ứng dụng tiến bộ KHCN Hòa Bình
    Ký kết hợp tác giữa ĐH Quốc gia Hà Nội, UBND
   tỉnh Hòa Bình và Công ty cổ phần Du lịch Hòa Bình
50 60
              Đặc sản táo mèo khô Mù Cang Chải - Yên Bái            Phân bón hữu cơ vi sinh Cao Phong - Hòa Bình
70 80
                  Sản phẩm bưởi đỏ Tân Lạc - Hòa Bình                      Sản phẩm tinh dầu hồi Lạng Sơn

Viết bởi An Mạnh Cường

Chuyên mục phụ

Tìm kiếm...

Thông báo mới

Quy định cơ chế tự chủ của tổ chức KH&CN công lập. Nghị định số 54/2016/NĐ-CP


Quyết định về việc công bố thủ tục hành chính đã chuẩn hóa thuôc phạm vi chức năng quản lý của Sở Khoa học và Công nghệ Hòa Bình


Quy định cơ chế tự chủ của tổ chức KH&CN công lập. Nghị định số 54/2016/NĐ-CP


Quyết định về việc công bố thủ tục hành chính đã chuẩn hóa thuôc phạm vi chức năng quản lý của Sở Khoa học và Công nghệ Hòa Bình


Quy định cơ chế tự chủ của tổ chức KH&CN công lập. Nghị định số 54/2016/NĐ-CP


Quyết định về việc công bố thủ tục hành chính đã chuẩn hóa thuôc phạm vi chức năng quản lý của Sở Khoa học và Công nghệ Hòa Bình


Quy định cơ chế tự chủ của tổ chức KH&CN công lập. Nghị định số 54/2016/NĐ-CP


Quyết định về việc công bố thủ tục hành chính đã chuẩn hóa thuôc phạm vi chức năng quản lý của Sở Khoa học và Công nghệ Hòa Bình


Quy định cơ chế tự chủ của tổ chức KH&CN công lập. Nghị định số 54/2016/NĐ-CP


Quyết định về việc công bố thủ tục hành chính đã chuẩn hóa thuôc phạm vi chức năng quản lý của Sở Khoa học và Công nghệ Hòa Bình


Quy định cơ chế tự chủ của tổ chức KH&CN công lập. Nghị định số 54/2016/NĐ-CP


Quyết định về việc công bố thủ tục hành chính đã chuẩn hóa thuôc phạm vi chức năng quản lý của Sở Khoa học và Công nghệ Hòa Bình


Quy định cơ chế tự chủ của tổ chức KH&CN công lập. Nghị định số 54/2016/NĐ-CP


Quyết định về việc công bố thủ tục hành chính đã chuẩn hóa thuôc phạm vi chức năng quản lý của Sở Khoa học và Công nghệ Hòa Bình


Quy định cơ chế tự chủ của tổ chức KH&CN công lập. Nghị định số 54/2016/NĐ-CP


Quyết định về việc công bố thủ tục hành chính đã chuẩn hóa thuôc phạm vi chức năng quản lý của Sở Khoa học và Công nghệ Hòa Bình



bkhcn
DCS-VN chinh-phu
tap chi KHCN Báo Khoa học & Phát triển
NASATI Varans
khoahoctot  

Thống kê truy cập

0875567
Hôm nay
Hôm qua
Tuần này
Tuần trước
Tháng này
Tháng trước
Tất cả các ngày
96
669
3927
866233
15845
33498
875567

Your IP: 192.168.51.1
2017-10-21 02:50